Into the Wild (8)

CHƯƠNG 8: ALASKA

Image 

Có thể, sau cùng, thói quen xấu của tài sáng tạo là đặt mình vào một kiểu bệnh lý tâm thần mà giúp mang đến những công trình đáng ngưỡng mộ nhưng không có đường ra cho những kẻ không thể nào diễn đạt nổi những tổn thương tâm lý của họ thành nghệ thuật hoặc suy luận cụ thể.

THEODORE ROSZAK,
“TÌM KIẾM SỰ DIỆU KỲ”

Chúng ta có trong nước Mỹ truyền thống “Con sông lớn hai tâm hồn”: mang vết thương lòng tới cho thiên nhiên chữa trị, một sự chuyển biến, ngơi nghỉ, hay bất kì thứ gì mà ta gọi tên. Và như trong câu truyện của Hemingway, nếu như tổn thương trong anh không đáng kể, thì nó thật hữu hiệu. Nhưng đây không phải là Michigan (hoặc Khu rừng lớn bên sông Mississippi của Faulkner). Mà đây là Alaska.

EDWARD HOAGLAND,
“VƯỢT QUA BÓNG ĐÊM TỚI CHALKYITSIK”

Khi McCandless được biết đến là đã chết ở Alaska và tình thế phức tạp của thi thể cậu được thông báo trên phương tiện truyền thông, rất nhiều người kết luận rằng chàng trai chắc hẳn có vấn đề về tâm thần. Bài báo viết về McCandless trên tạp chí Outside đã nhận được một lượng lớn thư phản hồi, và không ít trong số đó có nội dung nhục mạ McCandless — và cả tôi nữa, đương nhiên, bởi vì tôi là tác giả của bài báo đó, vì đã ngợi khen thứ mà họ cho rằng là một cái chết ngu ngốc, và vô nghĩa.

Rất nhiều những bức thư có lời lẽ cay độc được gửi đi từ Alaska. “Alex là một thằng ngu,” một công dân ở Healy – một làng nhỏ ở đầu Stampede Trail, viết. “Tác giả đã miêu tả một người đàn ông từ bỏ sự may mắn nhỏ bé, ruồng bỏ gia đình yêu thương mình, vứt bỏ xe hơi, nhìn bản đồ và đốt sạch những đồng tiền cuối cùng của mình trước khi dấn bước vào ‘vùng hoang dã’ ở phía tây Healy.”

“Cá nhân tôi không nhìn thấy bất kỳ điều tích cực nào từ lối sống của Chris McCandless hoặc những kẻ theo đuổi chủ nghĩa tôn sùng thiên nhiên,” một độc giả khác mắng vốn. “Đi vào thiên nhiên hoang dã với sự chuẩn bị sơ sài, và trải qua một lần suýt chết sẽ không biến anh thành một người tốt hơn được, nó chỉ cho thấy anh khá may mắn mà thôi.”

Một phản hồi của độc giả Outside có viết, “Tại sao có những người dự định ‘sống trong vùng hoang dã trong vài tháng’ lại có thể quên mất quy tắc hàng đầu của các Hướng đạo sinh: Chuẩn bị? Làm sao mà một thằng con trai lại có thể làm cho cha mẹ và gia đình mình phải chịu đựng nhiều đau đớn và dằn vặt như thế?”

“Krakauer là một gã thần kinh nếu ông ta cho rằng Chris ‘Alexander Siêu lang thang’ McCandless là một kẻ lập dị,” một người đàn ông từ Bắc Cực, Alaska phát biểu. “McCandless đã vượt quá giới hạn và kết thúc ở Alaska.”

Lời phê bình khắc nghiệt nhất đến từ một bức dày cộm, gồm nhiều trang giấy được gửi đi từ Ambler, một làng của người Inupiat nhỏ bên bờ sông Kobuk ở phía bắc của Vành đai Bắc Cực. Tác giả bức thư là một nhà văn da trắng và là một giáo viên, từng sống ở Washington, D.C., tên là Nick Jans. Thông báo rằng bấy giờ là 1 giờ sáng và ông đang uống một chai Seagram, Jans viết:

Trong suốt 15 năm qua, tôi đã gặp rất nhiều những người tương tự như McCandless trên đất nước này. Cùng một câu chuyện: những thanh niên có lý tưởng và giàu nhiệt huyết mà đánh giá quá cao bản thân mình, xem nhẹ bản chất của thiên nhiên, và kết thúc trong rắc rối. McCandless không phải là hiếm gặp; ở đất nước này vẫn có những anh chàng như thế, họ giống nhau đến mức tất cả bọn họ trở thành một tập hợp sáo rỗng. Điều khác biệt duy nhất là kết cục của McCandless là một cái chết, với câu chuyện về sự ngu dốt của anh ta tràn lan trên các phương tiện truyền thông. … (Jack London đã đúng khi viết “Để Xây Một Ngọn Lửa.” McCandless, rốt cuộc, chỉ là một phiên bản mờ nhạt và lố bịch của chủ nghĩa khổ hạnh London ở thế kỷ 20, người phải chịu chết cóng vì đã ngạo mạn phớt lờ những lời khuyên và tấm gương nhãn tiền)….

Sự ngu ngốc, mà có thể chữa trị bởi một thiết bị đo kinh – vĩ tuyến và cuốn cẩm nang dành cho Hướng đạo sinh, đã giết chết anh ta. Trong khi tôi thấy xót xa với cha mẹ anh ta, thì tôi không có một chút gì thương cảm dành cho gã trai đó. Thật đúng là một sự ngạo mạn ngu ngốc … phải trả giá vì đã xem thường vùng đất, và ngược đời khi bắt trước cùng một sự ngu ngốc đã đánh bại Exxon Valdez — cũng là một trường hợp khác của sự thiếu chuẩn bị, tự tin quá mức của những kẻ vụng về bên ngoài thiên nhiên và làm rối tung hết mọi chuyện bởi vì họ thiếu sự khiêm tốn cần thiết. Tất cả chỉ là vấn đề về mức độ.

Sự xoay trở của McCandless trong đức tu khổ hạnh và thái độ văn chương giả mạo kết hợp hơn là sự giảm thiểu lỗi lầm …. Các tấm bưu thiếp, ghi chú, và nhật ký của McCandless … đọc lên như thể tác phẩm của một thằng nhóc tham gia nhóm kịch của trường trung học thuộc loại khá — hay là tôi đã bỏ lỡ điều gì?

Sự hiểu biết thông thường về Alaska cho rằng McCandless chỉ đơn giản là một thằng ngốc lập dị mơ mộng mà đi đến vùng đất này với hi vọng tìm ra những câu trả lời cho tất cả các vấn đề của mình và thay vì thế chỉ thấy toàn muỗi và một cái chết cô đơn. Hàng tá các nhân vật đã lao vào vùng đất hoang dã Alaska trong suốt những năm qua, và không bao giờ quay trở lại. Một số ít vẫn tồn tại trong trí nhớ của vùng đất này.

Có một nhà duy tâm phản văn hóa đã đi qua làng Tanana vào đầu những năm 1970, tuyên bố rằng ông ta sẽ dành phần đời còn lại của mình để “đàm đạo với Thiên nhiên.” Vào giữa mùa đông, một nhà sinh học phát hiện ra các đồ đạc của ông ta — hai khẩu súng trường, thiết bị cắm trại, một cuốn nhật ký đầy ắp những lời huênh hoang mạch lạc về thực tế và cái đẹp và lý thuyết sinh thái học bí hiểm  — trong một cabin trống ở gần Tofty, bên trong đầy tuyết. Không bao giờ tìm thấy được vết tích về người thanh niên đó.

Một vài năm sau, một cựu chiến binh trở về từ Việt Nam đã dựng một cabin trên Black River ở phía đông của Chalkyitsik để “tránh xa loài người.” Vào tháng 2, ông ta hết thức ăn và đói khát, mà không hề cố gắng tự cứu lấy mình, dù cho có một cabin chất đầy thịt chỉ cách đó ba dặm về phía hạ lưu. Viết về cái chết của người đàn ông này, Edward Hoagland nhận định rằng Alaska “không phải là nơi lý tưởng nhất trên thế gian này dành cho những nhà ẩn sĩ hoặc các kịch sĩ yêu hòa bình thể nghiệm.”

Và rồi có một thiên tài bất trị mà tôi từng gặp gỡ ở bờ Prince William Sound vào năm 1981. Khi ấy tôi cắm trại trong khu rừng bên ngoài Cordova, Alaska, cố gắng kiếm một công việc đánh cá trên chiếc tàu kéo lưới, lãng phí thời gian của tôi cho tới khi Cục quản lý câu cá tuyên bố đợt mở màn mùa câu đầu tiên — khởi đầu mùa cá hồi. Một chiều mưa khi đi dạo trong thị trấn, tôi gặp một người đàn ông trông thật lo lắng và luộm thuộm khoảng 40 tuổi trên đường. Ông ta có bộ râu lùm xùm màu đen như một bụi rậm và mái tóc dài ngang vai, mà ông ta giữ không cho nó phủ che mặt bằng một sợi dây ni lông bẩn thỉu trên trán. Ông ta bước hối hả về phía tôi, lưng còng xuống bởi đống củi cao 6 foot trên vai.

Tôi cất tiếng chào khi ông ta tới gần, ông lầm bầm lời đáp lại, và chúng tôi dừng lại nói chuyện trong cơn mưa phùn. Tôi không hỏi tại sao ông ta lại mang củi ướt vào rừng, nơi mà ắt hẳn có hàng tấn củi ở đó. Sau một vài phút sốt sắng trao đổi mấy lời sáo rỗng, chúng tôi bước đi mỗi người mỗi ngả.

Từ cuộc nói chuyện ngắn ngủi giữa chúng tôi, tôi luận ra rằng tôi đã được tiếp chuyện gã lập dị nổi tiếng mà người dân địa phương ở đây gọi là Thị trưởng của Vũng Hippie — một sự liên tưởng tới một vũng triều cường phía bắc thị trấn mà là một cái mê lộ được trưng dụng làm nơi tạm trú của những gã tóc dài, gần nơi mà tay Thị trưởng kia đã sống trong vài năm. Hầu hết các cư dân của Vũng Hippie đều, giống như tôi, là những kẻ sống chui nhủi vào mùa hè, đến Cordova với hi vọng kiếm được công việc đánh cá có lương cao hoặc, nếu thất bại, thì chí ít cũng có thể kiếm được một công việc trong nhà máy đóng đồ hộp cá hồi. Nhưng Thị trưởng thì khác.

Tên thật của ông ta là Gene Rosellini. Ông ta là con cả trong số những người con riêng của vợ Victor Rosellini, một thương nhân kinh doanh nhà hàng giàu có ở Seattle, và là anh họ của Albert Rosellini, viên Thống đốc vô cùng nổi tiếng của Bang Washington trong nhiệm kỳ 1957 – 1965. Khi còn trẻ Gene là một vận động viên cừ và là một sinh viên suất sắc. Ông ta ham đọc, tập luyện yoga, và rất giỏi võ thuật. Ông ta luôn đạt điểm tổng kết 4.0 trong trường trung học và đại học. Ở Đại học Washington và sau này là Đại học Seattle, ông ta dồn toàn bộ tâm trí vào các môn nhân loại học, lịch sử, triết học, và ngôn ngữ học, hoàn thành hàng trăm giờ học tín chỉ mà không lấy bằng tốt nghiệp. Ông ta thấy chẳng có lý do gì để làm như vậy. Sự theo đuổi tri thức, ông ta tiếp tục duy trì, tự bản thân nó đã là một mục tiêu thỏa đáng mà không cần thêm bất kỳ một sự công nhận nào.

Thế rồi Rosellini từ bỏ con đường học thuật, rời khỏi Seattle, và dạt về phương bắc theo đường bờ biển tới British Columbia, một doi đất nằm trong lãnh thổ Alaska. Năm 1977, ông ta dừng chân ở Cordova. Ở đó, trong khu rừng bên rìa thị trấn, ông ta quyết định dành trọn cả cuộc thực hiện cuộc thí nghiệm về nhân chủng học đầy tham vọng.

“Tôi quan tâm tới việc liệu một con người có thể độc lập trong cuộc sống công nghệ hiện đại hay không,” ông tiết lộ với phóng viên tờ Nhật báo Anchorage Daily, Debra McKinney, một thập kỷ sau khi đặt chân tới Cordova. Ông phân vân liệu con người có thể sống giống như tổ tiên mình vào thời kỳ ma mút và hổ răng kiếm còn ngự trị vùng đất hay là dòng giống chúng ta đã đi quá xa so với cội rễ ban đầu nên không thể tồn tại được nếu thiếu đạn dược, sắt thép và những đồ tạo tác khác của nền văn minh. Với sự chú tâm đầy ám ảnh vào chi tiết mà đã tạo nên thương hiệu thiên tài gan góc của mình, Rosellini xóa bỏ cuộc đời mình ngoại trừ những công cụ thô sơ mà ông ta làm ra từ những nguyên vật liệu có sẵn trong thiên nhiên bằng chính bàn tay mình.

“Ông ấy cho thấy rằng loài người đã tiến hóa tới một tình trạng sống mà chịu sự phụ thuộc vào tiện nghi,” McKinney giải thích, “và đó chính là mục tiêu của ông ấy khi trở lại sống ở trạng thái nguyên thủy. Ông ấy liên tục thí nghiệm với các giai đoạn khác nhau của lịch sử — thời kỳ La Mã, thời kỳ Đồ sắt, thời kỳ Đồ đồng. Về cuối phong cách sống của ông có chứa các yếu tố của Thời kỳ đồ đá mới.”

Ông ta ăn rễ cây, quả dại, và rong biển, săn bắt bằng giáo và đặt bẫy, mặc các mảnh vải rách, chống chọi với mùa đông buốt giá. Ông ta có vẻ như thách thức những khó khăn. Ngôi nhà của ông ta trên Vũng Hippie là một căn lều nhỏ bẩn thỉu không có cửa sổ, được dựng lên mà không dùng đến cưa hay rìu: “Ông ấy dành nhiều ngày,” McKinney nói, “đục đẽo các thanh gỗ bằng một miếng đá sắc.”

Như thể tồn tại trong điều kiện ấy dựa vào những nguyên tắc tự mình đặt ra  là chưa đủ nỗ lực, Rosellini cũng tập luyện điên cuồng bất cứ khi nào không bận kiếm ăn. Ông ta dành cả ngày để uốn dẻo, nâng vật nặng, và chạy, thường là với một đống đá ở trên lưng. Trong suốt một mùa hè nọ ông đi được 18 dặm mỗi ngày.

“Thực nghiệm” của Rosellini kéo dài hơn một thập kỷ, nhưng rồi ông ta cảm thấy câu hỏi khiến thí nghiệm được thực hiện đã có câu trả lời. Trong một bức thư gửi cho bạn, ông viết,

Tôi bắt đầu cuộc đời trưởng thành của mình với giả thiết rằng việc trở thành một người Thời kỳ đồ đá là hoàn toàn có thể. Trong suốt 30 năm, tôi đã hoạch định và sắp xếp cuộc đời mình theo đúng như vậy. Trong 10 năm về sau, tôi thực sự đã trải nghiệm những thực tế về mặt thể chất, tinh thần, và cảm xúc của Thời kỳ Đồ đá. Nhưng xin trích dẫn một câu nói trong đạo Phật, tôi thực sự đã đối mặt với thực tại thuần khiết. Tôi hiểu ra rằng con người không thể nào sống tách biệt khỏi xã hội được.

Rosellini chấp nhận thất bại của giả thuyết mà ông ta đã xây dựng với sự bình thản. Vào tuổi bốn mươi chín, ông vui vẻ tuyên bố rằng ông đã “đúc lại” mục tiêu của mình và dự tính mục tiêu tiếp theo sẽ là “đi vòng quanh thế giới, với một chiếc ba lô. Tôi muốn đi được 18 tới 27 dặm đường mỗi ngày, 7 ngày trong truần, 365 ngày trong năm.”

Chuyến đi không bao giờ được bắt đầu. Vào tháng 11 năm 1991, Rosellini được tìm thấy nằm úp mặt trên sàn nhà với một con dao cắm vào tim. Nhân viên pháp y xác định rằng vết thương chí mạng là do người chết tự gây ra. Không có thư tuyệt mệnh tại hiện trường. Rosellini không để lại một gợi ý nào về việc tại sao ông ta lại quyết định kết thúc cuộc đời mình như thế. Không một ai có thể biết được câu trả lời.

Cái chết của Rosellini và câu chuyện về sự tồn tại kỳ dị của ông ta đã lên trang nhất tờ Nhật báo Anchorage. Tuy nhiên công việc khó nhọc của John Mallon Waterman lại thu hút ít sự chú ý hơn cả. Sinh năm 1952, Waterman được nuôi dưỡng trong cùng một môi trường sống ở ngoại vi Washington mà đã hình thành nên con người Chris McCandless. Cha ông ta, Guy Waterman, là một nhạc công và nhà văn tự do mà, trong số những thành tựu khiêm tốn nhất, là tác giả các bài phát biểu của tổng thống, cựu tổng thống, và các nhà chính trị lỗi lạc khác ở Washington. Cha của Waterman cũng là một chuyên gia leo núi, người đã dạy cả ba cậu con trai leo núi từ khi tuổi còn nhỏ. John, cậu con trai thứ, leo núi lần đầu tiên khi mười ba tuổi.

Ông ta là một thiên tài trong lĩnh vực này. John tới những vách đá cheo leo bất cứ khi nào có cơ hội và tập luyện mỗi khi không thể leo núi. Ông ta thực hiện bốn trăm lần chống đẩy mỗi ngày và đi bộ nhanh hai dặm rưỡi tới trường. Sau khi đi bộ về nhà vào buổi chiều, ông ta sẽ chạm tay vào cửa trước và quành trở lại trường để bắt đầu vòng thứ hai.

Năm 1969, khi mười sáu tuổi, John leo ngọn Mt. McKinley (mà ông ta gọi là Denali, cũng giống như phần lớn những người dân Alaska, thích gọi ngọn núi này bằng một cái tên Athapaskan), trở thành người trẻ tuổi thứ ba chinh phục đỉnh núi cao nhất của lục địa này. Trong vài năm tiếp theo đó ông đã chinh phục những đỉnh núi còn ấn tượng hơn ở Alaska, Canada, và châu Âu. Vào lúc ông chuyển tới trường Đại học Alaska ở Fairbanks, vào năm 1973, Waterman được biết đến như là nhà leo núi trẻ triển vọng nhất Bắc Mỹ.

Waterman là một con người nhỏ bé, cao khoảng 1m6, với khuôn mặt tinh ranh và cơ thể rắn chắc, khỏe mạnh của một vận động viên. Những người quen nhớ về ông như một người vụng về trong giao tiếp với tính khí con nít và khiếu khôi hài vượt trội và mắc chứng hưng trầm cảm.

“Lần đầu tiên tôi gặp John,” James Brady, một đồng đội leo núi và bạn thời đại học của John, kể lại, “anh ấy đi rảo bước trong trường với một chiếc áo choàng đen không tay và đeo cái kính màu xanh kiểu Elton John mà có hình ngôi sao ở giữa hai mắt kính. Anh ấy vác theo một chiếc guitar rẻ tiền với vài chỗ dán băng dính và rủ rê bất kỳ ai chịu khó lắng nghe một bài hát dài lê thê, lạc điệu về các cuộc phiêu lưu của mình. Fairbanks luôn thu hút rất nhiều kẻ lập dị, nhưng anh ấy vẫn kỳ cục dù đánh giá theo tiêu chuẩn Fairbanks. Vâng, John đã từng ở đó. Có nhiều người không biết phải xoay sở với anh ta như thế nào.”

Không khó để tưởng tượng ra những nguyên nhân hợp lý cho tính cách thiếu ổn định nơi Waterman. Cha mẹ ông ta, Guy và Emily Waterman, đã li dị khi ông còn ở lứa tuổi vị thành niên, và Guy, theo lời những người bạn thân thiết của gia đình, “hoàn toàn bỏ rơi các con trai sau cuộc li dị. Ông ta chẳng còn gì để làm với mấy cậu con trai, và điều này làm hỏng John. Không lâu sau cuộc chia tay của cha mẹ, John và anh trai, Bill, đến thăm cha mình — nhưng Guy từ chối gặp họ. Ngay sau đó, John và Bill đến Fairbanks để sống với một người bác. Vào thời điểm họ tới đó, John trở nên hào hứng bởi vì ông nghe nói cha mình sẽ tới Alaska leo núi. Nhưng khi Guy đến đó ông ta không buồn gặp mấy cậu con trai; ông ta đến và đi mà không hề ghé thăm họ. Điều này làm trái tim John tan vỡ.”

Bill, người mà John xây dựng một mối quan hệ vô cùng thân thiết, mất một chân khi còn là thiếu niên vì cố gắng nhảy tàu hàng. Năm 1973, Bill viết một bức thư bí hiểm, ám chỉ rằng đang lập kế hoạch cho một chuyến đi và rồi sẽ biến mất không một vết tích; cho đến nay không ai biết tin tức gì về người đàn ông đó. Sau khi John học leo núi, tám người bạn leo núi của ông đã bị chết bởi các tai nạn hoặc tự vẫn. Không quá khó để thừa nhận rằng những bất hạnh đột ngột như vậy đã gây tổn hại nghiêm trọng tới tinh thần của chàng thanh niên Waterman.

Tháng 3 năm 1978, Waterman bắt tay vào chuyến đi gây ngạc nhiên nhất của ông, chuyến leo núi đơn độc lên ngọn Mt. Hunter theo sườn đông nam, một con đường chưa từng được khám phá đã đánh bại ba nhóm leo núi chuyên nghiệp trước đó. Viết về kỳ công này trên tạp chí Climbing, nhà báo Glenn Randall tường thuật rằng Waterman mô tả những người đồng hành của ông ta trong chuyến leo núi là “gió, tuyết, và cái chết”:

Đường gờ cũng nhiều không khí như chiếc bánh nướng hiện ra trong khoảng không rộng sâu một dặm. Bức tường băng thẳng đứng cũng mỏng manh như một túi đá đã tan một nửa, rồi được làm đông lại. Chúng dẫn tới một đỉnh núi hẹp và dốc ở cả hai bên mà ngồi xổm là lựa chọn dễ dàng nhất. Những lúc mà cơn đau và nỗi cô đơn bao vây lấy anh và anh gục xuống và rơi nước mắt.

Sau 81 ngày vất vả, đặc biệt là trèo núi nguy hiểm, Waterman lên đến đỉnh cao 14,573-foot của ngọn Hunter, vươn mình trên dãy Alaska ngay phía nam của Denali. Chín tuần sau đó được dùng vào quá trình trượt xuống núi bớt đáng sợ hơn; tổng cộng Waterman bỏ ra 145 ngày cô đơn cho ngọn núi. Khi quay trở lại với cộng đồng, gần như phá sản, ông ta vay 20 dollar từ Cliff Hudson, viên phi công đã chở ông ra khỏi những ngọn núi, và quay trở về Fairbanks, nơi mà công việc duy nhất mà ông ta kiếm được là rửa chén.

Waterman được đón nhận như một anh hùng ở hội leo núi nhỏ bé Fairbanks. Ông có bài phát biểu trước quần chúng về việc chinh phục ngọn Hunter mà Brady gọi là “không thể quên được. Đó là một bài diễn thuyết tuyệt vời, hoàn toàn tự nhiên. Anh ấy bầy tỏ mọi suy nghĩ và cảm xúc, sợ hãi về việc phạm phải sai lầm, sợ hãi về cái chết. Cứ như thể anh đang ở đó cùng với anh ấy vậy.” Dù vậy, những tháng sau cuộc chinh phục đầy hoành tráng, Waterman nhận ra rằng thay vì để con quỷ trong mình ngủ yên, danh vọng đã đánh thức nó.

Tâm trí Waterman bắt đầu rời rạc. “John là người rất nghiêm khắc với bản thân, luôn tự chất vấn bản thân,” Brady kể lại. “Và anh ấy thường có xu hướng tự ép buộc bản thân. Anh ấy từng mang theo một tập bìa cứng và sổ ghi chép. Luôn ghi chép, ghi lại mọi điều mà anh ta làm trong ngày. Tôi nhớ có một lần gặp anh ấy ở trung tâm Fairbanks. Khi tôi bước tới, anh ấy lấy tấm bìa ra, ghi vào thời gian nhìn thấy tôi và ghi lại cuộc hội thoại của chúng tôi — mà thực ra chẳng có gì đáng kể. Lời ghi chú của anh ấy về cuộc gặp của chúng dài tận ba đến bốn mặt giấy, đằng sau đó là tất cả những thứ mà anh ta đã ghi lại trong ngày. Anh ấy cất giữ hàng chồng những ghi chú kiểu ấy ở đâu đó, mà tôi chắc rằng ngoài John ra thì nó chỉ là thứ vớ vẩn với tất cả mọi người.”

Ngay sau khi Waterman theo đuổi một chân trong hội học sinh của trường nhằm cổ xúy cho việc không hạn chế tình dục đối với sinh viên và tính hợp pháp của các chất kích thích gây ảo giác. Ông đánh mất sự tín nhiệm, và không có gì ngạc nhiên cả, ông ta lại tiếp tục một chiến dịch chính trị khác, lần này là trở thành tổng thống Mỹ. Ông ta tiến hành chiến dịch với tấm băng rôn đề Đảng-Vì-Những-Người-Đói-Khát, mà ưu tiên chính là đảm bảo rằng không có ai trên trái đất này phải chết đói.

Để quảng cáo cho chiến dịch của mình, ông lên kế hoạch cho một chuyến leo núi theo sườn phía nam của ngọn Denali, mặt núi dốc nhất của ngọn núi này, vào mùa đông, với lượng tối thiểu lương thực. Ông ta muốn giảm thiểu sự phung phí và lên án sự suy đồi của chế độ ăn kiêng của người Mỹ. Như là một phần của chương trình huấn luyện cho cuộc chinh phục, ông ta thường ngâm mình trong bồn tắm với nước đá.

Waterman bay tới Sông băng Kahiltna vào tháng 12 năm 1979 để bắt đầu leo núi nhưng bỏ cuộc chỉ sau mười bốn ngày. “Đưa tôi về nhà,” ông ta nói với viên phi công. “Tôi không muốn chết.” Tuy nhiên, hai tháng sau, ông ta lại chuẩn bị cho nỗ lực lần hai. Nhưng ở Talkeetna, một ngôi làng ở phía nam của Denali là điểm khởi hành của hầu hết các cuộc thám hiểm núi non ở Rặng núi Alaska, chiếc cabin mà ông ta ở bốc cháy thành than, thiêu trụi toàn bộ các thiết bị và các ghi chú, các bài thơ, nhật ký cá nhân mà ông đã giữ gìn cả đời.

Waterman hoàn toàn sup sụp bởi mất mát này. Một ngày sau khi hỏa hoạn xảy ra ông trình diện ở Bệnh viện Tâm thần Anchorage nhưng rời khỏi đó sau hai tuần, khăng khăng rằng có một âm mưu nào đó đang được tiến hành để đẩy ông ta đi. Rồi, vào mùa đông năm 1981, ông lại bắt đầu chuyến chinh phục một mình ngọn Denali.

Như thể leo ngọn núi này vào mùa đông một mình là chưa đủ thách thức, lần này ông quyết định nâng mức thử thách lên cao hơn bằng cách bắt đầu leo từ độ cao ngang mực nước biển, mà sẽ bao gồm cả việc đi bộ một quãng đường dài 160 dặm đầy khó khăn và hiểm trở từ bờ Vịnh Cook để tới chân ngọn núi. Ông ta bắt đầu di chuyển chậm chạp về phía bắc theo dòng thủy triều vào tháng 2, nhưng niềm phấn khích nhanh chóng bị dập tắt khi chạm tới Dòng sông băng Ruth, khi vẫn còn cách đỉnh núi ba mươi dặm, nên ông từ bỏ nỗ lực và quay trở lại Talkeetna. Tuy nhiên, vào tháng 3, ông cố gắng thêm một lần nữa để tiếp tục chuyến đi cô độc. Trước khi rời thị trấn, ông nói với viên phi công Cliff Hudson, người đã trở thành bạn của ông, “Tôi sẽ không gặp lại anh nữa.”

Đó là một tháng 3 lạnh khác thường ở Rặng Alaska. Vào cuối tháng đó Mugs Stump gặp gỡ với Waterman ở phía thượng nguồn Sông băng Ruth. Stump, một nhà leo núi nổi tiếng của thế giới mà bỏ mạng ở ngọn Denali vào năm 1992, vừa mới hoàn thành một chặng đường mới đầy khó khăn ở đỉnh núi gần đó, đỉnh Mooses Tooth. Ngay sau cuộc hội ngộ với Waterman, Stump tới thăm tôi ở Seattle và nói rằng “John, có vẻ như ông ấy không có ở đó. Ông ấy hành động người trời và nói những thứ cứt điên rồ. Có thể ông ấy sẽ thành công trong chuyến leo Denali mùa đông này, nhưng mà ông ấy dường như chẳng mang theo thiết bị nào cả. Ông ấy mặc mỗi một bộ quần áo leo núi một lớp rẻ tiền và chẳng thèm mang theo túi ngủ. Toàn bộ thức ăn mà ông ấy mang theo là một túi bột mỳ, một ít đường và một hộp Crisco lớn.” Trong cuốn sách Điểm vỡ của mình, Glenn Randall viết:

Trong nhiều tuần, Waterman chần chừ ở vùng đất này trong Sheldon Mountain House, một chiếc cabin nhỏ được dựng bên sườn dòng sông băng Ruth ở giữa rặng núi. Kate Bull, một người bạn của Waterman mà cũng đang leo núi ở đó vào lúc ấy, kể lại rằng bắt gặp ông ta với sự tập trung kém hơn bao giờ hết. Ông ta sử dụng chiếc radio mà ông mượn của Cliff [Hudson] và gọi cho ông ta và yêu cầu ông ấy bay lên và mang đến nhiều đồ cung cấp hơn. Rồi ông ta trả lại chiếc bộ đàm đã mượn.

“Tôi không cần đến thứ này nữa,” ông nói. Chiếc bộ đàm là thứ duy nhất mà ông ấy có thể sử dụng để yêu cầu giúp đỡ.

Vị trí cuối cùng của Waterman là ở Northwest Fork của sông băng Ruth vào ngày 1 tháng 4. Dấu vết của ông ta để lại dẫn tới dải hoành sơn Denali, ngay thẳng tới một lối dẫn vào một kẽ nứt khổng lồ, chứng cứ cho thấy rằng ông ta không hề có một cố gắng nào trong việc xóa bỏ khó khăn hiển hiện trước mắt. Ông ta không còn được trông thấy nữa; người ta đoán rằng ông đã bị rơi xuống từ một cây cầu băng mỏng và lao thẳng xuống dưới đáy của một trong những vực sâu nhất và bỏ mạng. Công viên Quốc gia tìm kiếm người trên cung đường dự định của Waterman từ trên không trong vòng một tuần sau khi ông ta mất tích nhưng không thể tìm thấy bất kỳ vết tích nào. Một số người leo núi sau đó phát hiện ra một ghi chú trên nóc một chiếc hộp dụng cụ của Waterman ở bên trong Sheldon Mountain House. “3-13-81,” nó ghi. “Nụ hôn từ biệt của tôi 1:42 PM.”

Có thể chắc chắn, có sự tương đồng nào đó giữa John Waterman và Chris McCandless. Sự so sánh cũng được thực hiện giữa McCandless với Carl McCunn, một người Texas niềm nở đãng trí mà đã chuyển tới Fairbanks trong những năm 1970 khi mà ngành khai thác dầu mỏ bùng nổ và tìm thấy công việc hấp dẫn của dự án xây dựng Đường ống dẫn liên Alaska. Vào đầu tháng 3 năm 1981, cũng như khi Waterman thực hiện cuộc hành trình cuối cùng vào Rặng Alaska, McCunn đã thuê một phi công lái máy bay trực thăng để thả ông ta xuống cái hồ hẻo lánh gần Sông Coleen, cách Fort Yukon khoảng bảy mươi nhăm dặm về phía đông bắc, ở bên rìa phía nam của Rặng Brooks.

Là một nhà nhiếp ảnh nghiệp dư ba mươi lăm tuổi, McCunn kể với bạn bè rằng lý do chính của chuyến đi là ghi lại hình ảnh của thế giới hoang dã. Ông ta bay vào vùng đất với năm trăm cuộn phim, một khẩu súng trường .22 li và hai khẩu .30, một khẩu súng lục, và mười bốn pound thực phẩm dự trữ. Dự định của ông ta là ở lại nơi hoang dã cho qua tháng 8. Tuy vậy, ông ta thờ ơ trong việc thu xếp để viên phi công đưa ông ta trở lại cuộc sống văn minh vào cuối mùa hè, và quyết định này đã được trả giá bằng sinh mạng của chính McCunn.

Sự sơ suất gây kinh ngạc này không làm cho Mark Stoppel phải kinh ngạc, một công dân Fairbanks trẻ tuổi từng quen biết McCunn trong suốt chín tháng trời làm việc cùng nhau ở trạm bơm, gần vào thời điểm tay Texas cao lêu nghêu rời đi tới Rặng Brooks.

“Carl là một anh chàng thân thiện, được nhiều người biết,” Stoppel nhớ lại. “Và anh ta có vẻ là một gã thông minh. Nhưng trong con người anh ta có một chút mơ mộng, một chút phi thực tế. Anh ta có đôi chút khoa trương. Thích tiệc tùng náo động. Có thể tỏ ra vô cùng có trách nhiệm, nhưng lại có khuynh hướng lảng tránh chúng đôi lúc, hành động bốc đồng, và thích khoác vào cái dáng vẻ hiên ngang và phong trần. Không, tôi cho là tôi có ngạc nhiên khi Carl ra ngoài đó và quên mất dàn xếp việc máy bay quay lại đón. Nhưng tôi cũng không dễ dàng kinh ngạc. Tôi có rất nhiều người bạn mà đã bị chết đuối hoặc bị sát hại hoặc bị giết chết bởi những tai nạn kỳ lạ. Ở Alaska này anh sẽ buộc phải quen với những chuyện kỳ lạ kiểu ấy.”

Cuối tháng 8, khi ngày trở nên ngắn hơn và không khí trở nên lạnh hơn và mùa thu về đến với Rặng Brooks, McCunn bắt đầu lo lắng khi không thấy ai xuất hiện để đón ông ta đi. “Tôi nghĩ rằng tôi đáng lý ra nên sử dụng nhiều sự lo xa hơn trong việc thu xếp sự đến – đi của tôi,” ông ta thú nhận trong cuốn nhật ký, được xuất bản thành câu truyện năm phần sau khi qua đời bởi Kris Capps trên tờ Nhật báo Fairbanks – Thợ mỏ. “Tôi sẽ sớm được tìm thấy.”

Tuần này qua tuần khác ông ta có thể cảm nhận thấy rõ sự hiện diện gia tăng của mùa đông. Khi lương thực trở nên dần cạn, McCunn thực sự hối hận sâu sắc vì đã vứt đi cả tá đạn dành cho súng lục xuống dưới hồ. “Tôi cứ nghĩ mãi về số đạn mà tôi đã vứt đi hai tháng trước đây,” ông ta ghi lại. “Có tới năm hộp đạn và khi tôi nhìn thấy chúng ở đây tôi cho rằng thật là ngu ngốc khi mang theo quá nhiều những thứ ấy. (Cảm thấy như tay buôn vũ khí.)… thật sự sáng suốt. Ai mà biết được rằng tôi có thể cần đến chúng để khỏi chết đói.”

Rồi, vào một buổi sáng tháng 9 lồng lộng gió, sự giải cứu dường như đã sắp xuất hiện. McCunn lén theo lũ vịt với số đạn dược còn lại khi sự yên bình bị khuấy trộn bởi tiếng động cơ máy bay, rồi nhanh chóng xuất hiện phía trên đầu.Viên phi công, nhìn thấy ngay vị trí cái trại, lượn hai vòng ở độ cao thấp để có thể nhìn thấy rõ hơn. McCunn vẫy điên cuồng với một chiếc vỏ túi ngủ màu da cam. Chiếc máy bay được trang bị các bánh xe thay vì hai thanh ngang nằm dọc thân và bên dưới máy bay trực thăng và không thể hạ cánh, nhưng McCunn đã chắc chắn rằng ông ta được trông thấy và không có nghi ngờ gì về việc phi công sẽ hiệu triệu một máy bay thích hợp để quay lại cứu ông ta. Ông ta chắc chắn đến nỗi đã ghi lại trong nhật ký rằng “Tôi ngừng vẫy sau vòng cua đầu tiên. Và rồi tôi bận bịu gói ghém đồ đạc và chuẩn bị sẵn sàng dỡ trại.”

Nhưng ngày hôm đó không có chiếc máy bay nào quay lại, ngày hôm sau, và hôm sau nữa cũng vậy. Rốt cuộc, McCunn cũng chịu nhìn lại mặt sau của tờ giấy phép săn bắn của mình và hiểu ra. Các hướng dẫn về yêu cầu hỗ trợ khẩn cấp bằng tay để trao đổi với phi công từ mặt đất được ghi rõ ràng trong một hình vuông nhỏ của tờ giấy. “Tôi nhớ lại là đã vẫy bằng tay phải, vai giơ cao và lắc nắm tay khi chiếc máy bay quay lại lần thứ hai,” McCunn viết. “Đó là dấu hiệu chúc mừng — như khi đội của anh ghi bàn hay cái gì đó tương tự thế.” Thật không may, khi mà ông ta học được điều này thì đã là quá muộn, vì giơ một tay lên là ký hiệu được nhận biết trên toàn thế giới này cho “tất cả đều ổn; không cần hỗ trợ.” Ký hiệu “SOS; hãy gửi đến ngay sự trợ giúp,” là hai bàn tay giơ lên.

“Có thể đó là lý do vì sao mà sau khi họ rời đi rồi họ vẫn quay trở lại lần thứ hai và lúc đó tôi không làm một ký hiệu nào cả (thự ra lúc ấy tôi đang quay lưng lại phía chiếc máy bay khi nó bay qua),” McCunn mỉa mai. “Có thể họ sẽ cho rằng tôi không bình thường.”

Vào cuối tháng 9, tuyết bắt đầu đổ xuống vùng lãnh nguyên[1], và mặt hồ hoàn toàn bị đóng băng. Vì số lương thực mang theo đã cạn kiệt, McCunn cố gắng thu thập các loại cây dại và bẫy thỏ. Tại một thời điểm ông ta phải ăn thịt thối rữa của một con tuần lộc bị bệnh mà đã lạc vào hồ và chết. Tuy nhiên, vào tháng 10, ông ta đã chuyển hóa hết toàn bộ lượng mỡ trong cơ thể và gặp khó khăn trong việc giữ ấm người trong những đêm dài lạnh lẽo. “Chắc chắn là một ai đó trong thị trấn đã phát hiện ra có chuyện gì đó không ổn – rằng tôi vẫn chưa quay trở về,” ông ta ghi lại. Nhưng vẫn không có chiếc máy bay nào xuất hiện cả.

“Giống y như Carl đã giả định rằng có ai đó sẽ xuất hiện một cách kỳ diệu và cứu anh ta,” Stoppel nói. “Anh ấy là một Teamster (người lái xe tải) — anh ta lái một chiếc xe tải — nên anh ta có rất nhiều thời gian rảnh rỗi trong lúc làm việc, chỉ việc đặt mông lên đống hàng, và mơ mộng giữa ban ngày, đó là cách mà anh ta đã nảy ra ý tưởng về chuyến đi tới Rặng Brooks. Nó là cuộc tìm kiếm nghiêm túc đối với anh ta: Anh ta dành cả phần lớn thời gian trong một năm để nghĩ về nó, lên kế hoạch, trù liệu, nói chuyện với tôi trong những thời gian nghỉ về việc nên theo những dụng cụ gì. Nhưng dù anh ta đã lên kế hoạch cẩn thận ra sao, thì anh ta cũng quá ảo tưởng về thiên nhiên hoang dã.

“Ngay từ đầu,” Stoppel tiếp tục, “Carl không muốn bay tới mấy bụi cây một mình. Ước mơ lớn của anh ta là đi vào rừng và chung sống với một cô nàng xinh đẹp nào đó. Anh ta hấp dẫn đối với ít nhất một vài cô gái làm việc cùng chúng tôi, và anh ta dành nhiều thời gian và năng lượng để nói chuyện với cô Sue hoặc cô Barbara hoặc bất kỳ cô nào chịu chơi với anh ta — mà tất cả những điều này phần lớn đều do anh ta tưởng tượng ra. Chẳng có cách nào để làm cho điều này xảy ra cả. Ý tôi là, ở một khu nhà máy đường ống dẫn nơi chúng tôi làm việc, Trạm bơm số 7, có tới bốn mươi gã đàn ông cho một cô nàng lựa chọn. Nhưng Carl là loại người mơ mộng, và cho tới khi anh ta bay tới dãy Brooks, anh ta vẫn còn hi vọng và hi vọng và hi vọng rằng một trong số các cô gái đó sẽ đổi ý và quyết định cùng đi với anh ta.”

Cũng tương tự, Stoppel giải thích, “Carl là loại người có những kỳ vọng không thực tế mà ai đó có thể luận ra ngay là anh ta đang gặp rắc rối và che đậy bản thân. Mặc dù đang nằm trên bờ vực chết đói, anh ta có thể vẫn tưởng tượng rằng Sue lớn sẽ bay tới đó vào phút cuối với một cái máy bay chất toàn thức ăn và sẽ có một câu chuyện tình lãng mạn với anh ta. Nhưng thế giới cổ tích của anh ta nằm ở mức độ xa vời khiến không một ai có thể liên hệ tới được. Carl ngày càng đói hơn. Vào lúc mà cuối cùng anh ta cũng hiểu ra rằng không một ai sẽ tới giải cứu anh ta, anh ta hoảng hốt ở thời điểm mà đã là quá muộn để anh ta có thể làm được gì đó vì điều này.”

Khi thức ăn của McCunn gần như chẳng còn lại gì, ông ta ghi lại trong nhật ký, “Tôi có nhiều điều phải lo lắng. Nói thật là, tôi bắt đầu hoảng.” Nhiệt kế chỉ nhiệt độ là âm năm độ F. Các ngón tay, ngón chân của ông ta bắt đầu hoại tử và gây đau đớn.

Vào tháng 11 ông ta tiêu thụ nốt khẩu phần ăn cuối cùng của mình. Ông ta cảm thấy yếu và chóng mặt; cái lạnh giá đã cuốn đi vẻ bề ngoài mạnh mẽ của ông ta. Nhật ký ghi lại, “Tình trạng của tay và mũi ngày một tệ hơn cùng với chân. Chóp mũi thì bị sưng, phồng rộp và đóng vảy…. Đây chắc chắn là một cách thức để chết trong chậm chạp và đau khổ.” McCunn cân nhắc việc rời khỏi phạm vi an toàn của nơi cắm trại và đi bộ về Pháo đài Yukon nhưng kết luận rằng ông ta không đủ khỏe để làm vậy, và ông ta có thể sẽ gục ngã vì kiệt sức và vì lạnh trước khi đến được đích.

“Phần đất nơi Carl tới là một vùng hẻo lánh, rất hoang vu ở Alaska,” Stoppel nói. “Trời lạnh khủng khiếp vào mùa đông. Một số người trong hoàn cảnh của anh ta có thể luận ra cách đi ra bên ngoài hoặc có thể khi mùa đông kết thúc, nhưng để làm như vậy, thì anh phải thực sự mạnh mẽ. Anh cần phải tập trung cả về mặt trí lực và thể lực. Anh phải là một con hổ, một kẻ sát nhận, một con thú. Và Carl thì quá non nớt. Anh ấy chỉ là một kẻ hay tiệc tùng.”

“Tôi không thể tiếp tục như thế này, tôi rất sợ,” McCunn viết vào cuối tháng 11 ở trang gần cuối của cuốn nhật ký, mà giờ đây đã bao gồm khoảng một trăm trang giấy được viết bằng mực xanh. “Hỡi Chúa trời ở trên Thiên đàng, xin Người hãy tha thứ cho sự yếu đuối và tội lỗi nơi con. Xin Người hãy phù hộ cho gia đình con.” Và rồi ông ta dựa vào thành của túp lều, đặt nòng của khẩu súng .30 li vào đầu, và dùng ngón tay cái bóp cò. Hai tháng sau đó, vào ngày 2 tháng 2, 1982, Cảnh sát Bang Alaska đi qua túp lều, nhìn vào bên trong, và phát hiện một xác chết gầy mòn bị đóng băng cứng như đá.

Có sự tương đồng nào đó giữa Rosellini, Waterman, McCunn, và McCandless. Cũng giống như Rosellini và Waterman, McCandless là một người ham tìm kiếm và có sự ngưỡng mộ không thực tế trước mặt khắc nghiệt của thiên nhiên. Cũng giống như Waterman và McCunn, cậu ta thiếu mất trí thông minh thông thường một cách đáng kinh ngạc. Nhưng không giống với Waterman, McCandless không bị bệnh tâm thần. Và cũng không giống McCunn, cậu ta không đi vào bụi rậm với giả thiết rằng một ai đó sẽ lập tức xuất hiện và phục vụ cậu ta món thịt xông khói.

McCandless không hoàn toàn phù hợp với khuôn mẫu tử nạn nơi hoang dã. Mặc dù cậu có hấp tấp, và có đôi chút ngây thơ về vùng nông thôn thưa người, và thiếu thận trọng tới mức liều mạng một cách vô ích, thì cậu ta hoàn toàn không phải là kẻ bất tài — cậu không thể sống tới 113 nếu là một con người như vậy. Và cậu không thần kinh, cậu không phải là kẻ không biết cách hành xử, chẳng phải kẻ bơ vơ. McCandless là một thứ gì đó khác hẳn — mặc dầu thực sự là thì thật khó nói. Một nhà ẩn cư, cũng rất có thể.

Một vài sự nhìn nhận sâu sắc về tấn thảm kịch của Chris McCandless có thể đạt được bằng cách nghiên cứu những lát cắt tương tự từ những trường hợp kỳ lạ khác. Và để làm như vậy, chúng ta phải đi đi xa hơn Alaska, tới những dãy núi đá hoang vu ở miền nam Utah. Ở đó, vào năm 1934, một chàng thanh niên lập dị hai mươi tuổi đã đi vào sa mạc và không bao giờ quay trở về. Tên của anh ta là Everett Ruess.


[1]  lãnh nguyên (tundra): những vùng Bắc cực trơ trụi bằng phẳng rộng lớn của châu Âu,  A và Bắc Mỹ, nơi tầng đất cái đã bị đóng băng vĩnh cửu

//

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: