Into The Wild (7)

Image

CHƯƠNG 7: CARTHAGE

Có những cuốn sách. Một trong số đó là Hành trình của một kẻ hành hương, kể về một người đàn ông từ bỏ gia đình của mình, mà không nói rõ vì sao. Tôi đã đọc đi đọc lại cuốn sách nhiều lần. Câu chuyện thật thú vị, nhưng đầy đau đớn.

MARK TWAIN,

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA HUCKLEBERRY FINN

Thật đúng là nhiều người có khả năng sáng tạo đã thất bại trong việc xây dựng các mối quan hệ trưởng thành ở cấp độ cá nhân, và một số người thì tuyệt đối cô độc. Cũng đúng nữa, là trong một vài trường hợp, chấn thương, trong dạng thức chia ly sớm hay mất đi người thân, đã hướng người sáng tạo tiềm năng phát triển theo khía cạnh nhân cách mà có thể tìm thấy sự khỏa lấp trong trạng thái cô độc tương quan. Nhưng điều này không có nghĩa là việc theo đuổi sự sáng tạo cô độc đó là một kiểu bệnh lý học.

Hành vi lảng tránh là sự phản ứng lại mà được cấu thành nhằm bảo vệ đứa trẻ khỏi sự rối loạn tổ chức hành vi. Nếu ta áp dụng khái niệm này lên đời sống của người trưởng thành, ta có thể thấy rằng một đứa trẻ xa lánh rất có thể sẽ trở thành một người mà những nhu cầu chính yếu là tìm kiếm một loại ý nghĩa và trật tự nào đó trong đời sống mà không phải là toàn bộ, hoặc có thể là chủ yếu, phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người với người.

ANTHONY STORR,

CÔ ĐỘC: SỰ TRỞ VỀ VỚI BẢN THỂ

John Deere 8020 im lặng trong đêm tối, cả một con đường dài hình thành không từ đâu cả, được bao bọc bởi cánh đồng đã được gặt một nửa ở South Dakota. Đôi giày đế mềm dính đầy bùn của Wayne Westerberg nhô ra từ phần bụng của chiếc máy xay xát, như thể cỗ máy đang nuốt chửng anh ta, một con bò sát khổng lồ đang cắn xé con mồi. “Làm ơn lấy hộ tôi cái bu loong kia với, được chứ?” một giọng nói nghèn nghẹt, giận dữ phát ra từ trong lòng cỗ máy. “Hay là các cậu quá bận đút tay vào cái túi quần khốn kiếp kia hả?” Chiếc máy gặp trục trặc lần thứ ba trong mấy ngày này, và Westerberg cố gắng như điên trong việc thay thế một chi tiết máy khó chạm tới trước khi đêm xuống.

Một giờ đồng hồ sau anh ta lộ diện, người lấm lem đầy dầu mỡ và vỏ trấu nhưng hoàn toàn thành công. “Xin lỗi anh vì đã cắn cảu lúc nãy,” Westerberg cất lời xin lỗi. “Chúng tôi làm việc ở cường độ cao suốt mấy ngày nay. Tôi nghĩ là tôi đã càu nhàu ít nhiều, bây giờ là khá muộn rồi, mà chúng tôi thì thiếu nhân lực trầm trọng. Chúng tôi cứ đinh ninh rằng Alex sẽ quay lại làm việc vào thời điểm này.” Năm mươi ngày đã trôi qua kể từ khi thi thể của McCandless được tìm thấy ở Alaska trên đường mòn Stampede Trail.

Bảy tháng trước đó, trong một chiều tháng 3 buốt giá, McCandless thong thả đi vào văn phòng xay xát ở Carthage và tuyên bố rằng cậu đã sẵn sàng nhận việc. “Chúng tôi ở đó, đang tổng kết lại kết quả làm việc buổi sáng,” Westerberg nhớ lại, “và Alex bước vào vai đeo chiếc ba lô to đùng.” Cậu nói với Westerberg rằng cậu dự định sẽ ở lại cho đến ngày 15 tháng 4, đủ lâu để chuẩn bị số tiền cần thiết cho chuyến đi. Cậu cần mua một số vật dụng mới, cậu giải thích, bởi vì cậu sắp đi Alaska. McCandless hứa sẽ quay lại South Dakota kịp lúc để giúp thu hoạch vụ thu, nhưng cậu muốn có mặt ở Fairbanks vào cuối tháng 4 để có càng nhiều thời gian ở phía Bắc càng tốt trước khi quay lại.

Trong suốt bốn tuần lễ ở Carthage, McCandless làm việc chăm chỉ, thực hiện những công việc bẩn thỉu, chán ngắt mà không một ai muốn giây vào: tẩy uế nhà kho, diệt sâu bọ, quét sơn, phơi hạt giống. Ở một điểm nào đó, nhằm thưởng cho McCandless một nhiệm vụ mà đòi hỏi nhiều kỹ năng hơn, Westerberg đã cố dạy cậu cách sử dụng máy xúc ngoại vi. “Alex không sử dụng máy móc nhiều lắm,” Westerberg vừa nói vừa lắc đầu, “và cách cậu ấy sử dụng đòn bẩy và các thứ khác trông khá buồn cười. Chắc chắn cậu ấy không phải là người mà anh có thể gọi là có đầu óc kỹ thuật.”

McCandless cũng không phải là loại người có khả năng nhận biết các nguyên tắc chung. Rất nhiều người quen biết cậu đều nhận xét rằng cậu cảm thấy rất khó khăn khi nhìn những cái cây, như nó vốn thế, là một rừng cây. “Alex không phải là người có khả năng bao quát không gian tổng thể hay cái gì khác,” Westerberg nói; “đừng hiểu sai ý tôi. Nhưng đúng là có một lỗ hổng trong nhận thức của cậu ấy. Còn nhớ có một lần tôi đi qua ngôi nhà, bước vào bếp, và nhận ra một thứ mùi rất kinh. Mùi ấy phát tởm lên được. Tôi mở cái lò vi sóng ra, ở đáy lò toàn là mỡ động vật ôi. Alex dùng cái lò để nấu gà, và cậu ấy không ý thức được rằng mỡ phải được khô đi ở đâu đó. Không phải là cậu ấy quá lười lau chùi — Alex luôn giữ mọi thứ sạch sẽ và ngăn nắp — mà là cậu ấy không nhận ra đống mỡ.”

Ngay sau khi McCandless quay lại Carthage mùa xuân đó, Westerberg giới thiệu cậu với người bạn gái lâu năm, tan rồi lại hợp, Gail Borah, một người phụ nữ nhỏ nhắn, có đôi mắt buồn, mình hạc xương mai, với nét duyên ngầm và mái tóc dài màu vàng. Ba mươi nhăm tuổi, đã li dị, bà mẹ có hai con đang ở tuổi vị thành niên, chị nhanh chóng kết thân với McCandless. “Lúc ban đầu cậu ấy hơi rụt rè,” Borah nhận xét. “Cậu ấy hành động như thể cậu ấy rất khó khăn khi ở gần người khác. Tôi chỉ đoán rằng đấy là bởi cậu ấy dành thời gian cho riêng mình quá nhiều.”

“Tôi rủ Alex đến nhà dùng bữa khuya mỗi ngày,” Borah tiếp tục. “Cậu ấy ăn rất khỏe. Không bao giờ bỏ lại thứ gì trên đĩa. Không bao giờ. Mà cậu ấy nấu ăn cũng rất cừ. Thỉnh thoảng cậu ấy gọi tôi tới chỗ Wayne và phục vụ bữa khuya cho tất cả mọi người. Cậu ấy nấu rất nhiều gạo. Anh có thể cho rằng rồi cậu ấy sẽ phát ngấy thứ ấy, nhưng thực ra thì không. Cậu ấy từng kể với tôi rằng cậu ấy có thể sống trong một tháng mà không cần ăn gì khác ngoài hai mươi pound gạo.”

“Alex nói luôn mồm khi chúng tôi gặp nhau,” Borah nhớ lại. “Toàn những vấn đề nghiêm túc, cứ như thể cậu ấy đang lột trần linh hồn mình vậy. Cậu ấy bảo với tôi rằng cậu ấy có thể nói với tôi về những chuyện mà không thể chia sẻ với người nào khác. Anh có thể thấy có điều gì đó đang gặm mòn cậu ấy. Khá hiển nhiên rằng cậu ấy không hòa hợp lắm với gia đình mình, nhưng cậu ấy cũng chẳng bao giờ nhắc gì nhiều tới họ ngoại trừ cô em gái tên Carine. Cậu ấy nói hai người khá thân thiết. Rằng cô ấy rất đẹp, rằng khi cô ấy đi xuống phố, tụi con trai cứ ngoái đầu lại mà nhìn.”

Westerberg, về phần mình, không quan tâm tới chuyện gia đình của McCandless. “Dù lý do khiến cậu ta bực bội là gì, thì tôi cho rằng điều ấy là có lý. Dù vậy, khi mà bây giờ cậu ấy đã ra đi, thì tôi cũng không chắc nữa. Nếu lúc này Alex ở đây, tôi sẽ cố gắng chỉ cho cậu ấy thấy điều đúng đắn: ‘Cậu nghĩ cái quái gì thế? Sao lại không nói chuyện với gia đình trong suốt thời gian dài như thế, sao lại đối xử với họ phũ phàng như vậy!’ Một thằng nhóc đang làm việc cho tôi, mẹ kiếp, cậu ta còn chẳng có cha mẹ cho ra hồn, nhưng tôi chưa hề nghe thấy cậu ta than thở gì cả. Dù vấn đề của gia đình Alex có là gì, tôi cam đoan với anh rằng tôi đã được chứng kiến nhiều điều còn tồi tệ hơn thế. Tôi hiểu Alex mà, tôi nghĩ cậu ấy có gì đó vướng mắc với cha mình và không thể bỏ qua.”

Lời phỏng đoán sau của Westerberg, như thực tế cho thấy, là một phân tích khá sắc sảo về mối quan hệ giữa Chris và Walt McCandless. Cả hai cha con đều cố chấp và dễ xúc động. Với nhu cầu kiểm soát chặt chẽ của Walt và khuynh hướng độc lập tự nhiên của Chris, mâu thuẫn là không thể tránh khỏi. Chris chịu đựng sự kiểm soát của Walt ở trường trung học và đại học trong một mức độ đáng ngạc nhiên, nhưng chàng trai dồn nén mọi căm phẫn ở trong lòng trong suốt quãng thời gian đó. Cậu cho rằng tất cả những gì mà cậu quan sát thấy là thiếu sót về nhân cách của người cha, tính đạo đức giả trong lối sống của cha mẹ cậu, sự bạo ngược trong tình yêu có điều kiện của họ. Dù vậy, Chris phản kích lại — và khi cuối cùng cậu cũng làm điều đó, ở một mức độ quá đà.

Ngay trước khi biến mất, Chris than phiền với Carine rằng hành vi của cha mẹ họ “thật là vô lý, thật quá mức chịu đựng, không đáng được tôn trọng và vô liêm sỉ nên cuối cùng anh không còn chịu đựng được nữa.” Cậu tiếp tục:

Vì họ chưa bao giờ nhìn nhận anh một cách nghiêm túc, vài tháng sau khi tốt nghiệp anh sẽ để họ cho rằng họ đúng, anh sẽ để họ cho rằng “anh xem xét sự việc cùng quan điểm với họ” và rằng mối quan hệ này vẫn ổn. Và rồi, vào thời điểm thích hợp, một cách bất ngờ, hành động quyết liệt của anh sẽ xóa bỏ họ hoàn toàn khỏi cuộc đời anh. Anh sẽ không còn xem họ là cha mẹ nữa và sẽ không bao giờ  nói chuyện với những kẻ ngớ ngẩn đó cho đến khi anh chết. Anh sẽ làm rõ trắng đen với họ, một lần và mãi mãi.”

Sự lạnh lùng mà Westerberg cảm nhận được giữa Alex với cha mẹ cậu là hoàn toàn đối lập với sự nồng nhiệt mà McCandless thể hiện ở Carthage. Thân thiện và vô cùng dễ chịu những khi tâm trạng tốt, cậu thu hút rất nhiều người. Có nhiều thư chờ cậu mở ra đọc khi cậu quay về South Dakota, được gửi từ những người mà cậu gặp gỡ trên đường, bao gồm cả những gì mà Westerberg nhớ rằng “những bức thư gửi từ một cô bé mê tít cậu ta, một ai đó mà cậu ấy quen khi ở Timbuktu — một dạng khu vực cắm trại, tôi cho là vậy.” Nhưng McCandless không bao giờ đề cập đến một mối quan hệ tình cảm nào trước mặt Westerberg hay Borah.

“Tôi không thấy Alex nói gì về bạn gái,” Westerberg nói. “Dù cho đôi khi cậu ấy bày tỏ ý muốn kết hôn và lập gia đình vào một ngày nào đó. Có thể  nói rằng cậu ấy không hề coi nhẹ các mối quan hệ. Cậu ấy không phải là loại người cứ đi ra ngoài và chọn bừa bất kỳ một cô gái nào chỉ để cho vui.”

Điều này cũng rõ ràng với Borah, rằng McCandless không dành quá nhiều thời gian tiếp cận những người độc thân bên quầy bar. “Có một đêm cả nhóm chúng tôi đến quán bar ở Madison,” Borah kể, “và khó lắm mới lôi được cậu ấy ra sàn nhảy. Nhưng một khi đã ở đó, thì cậu ấy chẳng buồn ngồi xuống. Chúng tôi có một đêm thật khó quên. Sau cái chết của Alex, Carine có nói lại với tôi rằng theo cô ấy biết, tôi là một trong số rất ít những phụ nữ may mắn được nhảy cùng với cậu ấy.”

Trong thời gian còn học trung học McCandless có quan hệ thân thiết với hai hay ba người bạn khác giới, và Carine kể lại có một lần say rượu và cậu ta đã cố gắng đưa một cô gái lên phòng mình lúc nửa đêm (họ đi lại quá ồn ào trên cầu thang nên Billie bị đánh thức và phải đưa cô bé kia về nhà). Nhưng đó cũng là một chứng cứ nhỏ cho thấy cậu có ham muốn tình dục khi còn là vị thành niên và ít hơn cả là cho thấy rằng cậu từng quan hệ với phụ nữ sau khi tốt nghiệp trung học. (Cũng như, do đó, không có bất kỳ một bằng chứng nào chứng minh rằng cậu có hứng thú với đàn ông.) Có vẻ như McCandless thích phụ nữ nhưng duy trì tình trạng độc thân vì lý do tín ngưỡng, cậu giữ sự trinh bạch giống như một thầy tu.

Trinh bạch và trong sáng là những phẩm chất mà McCandless thường xuyên nghiền ngẫm trong thời gian dài. Do đó, một trong những cuốn sách được tìm thấy trong đống di vật của cậu trên xe buýt là tuyển tập các truyện ngắn của Tolstoy, bao gồm “Bản Sô-nát Kreutzer,” kể về một nhà quý tộc trở thành một thầy tu khổ hạnh và lên án sự “ham muốn xác thịt.” Hàng loạt những đoạn văn được đánh dấu hoa thị và bôi đậm, và lề trang sách được lấp đầy bởi những ghi chú bằng chữ viết tay của McCandless. Và ở chương “Quy luật tối thượng” trong cuốn Walden của Thoreau, một cuốn sách cũng được tìm thấy trên xe buýt, McCandless đóng khung câu “Trinh bạch là sự nở hoa của con người; và những gì được gọi là Thiên tài, Anh hùng, Thần thánh, và những điều tương tự, là những quả chín của cái cây kia.”

Những người Mỹ chúng ta trở nên lố bịch trước tình dục, bị nó làm cho ám ảnh, kinh sợ. Khi một người xuất hiện ở trạng thái khỏe mạnh, đặc biệt là một người đàn ông trẻ, chọn lựa việc kiêng kị sự cám dỗ của xác thịt, thì nó làm cho chúng ta hoảng hốt, và chúng ta ngước nhìn người đó với ánh mắt thiếu thiện cảm. Lòng nghi ngờ trào dâng.

Tuy nhiên, sự biểu hiện ngây thơ về dục tính nơi McCandless, là một hệ quả thiết yếu của loại nhân cách mà nền văn hóa của chúng ta ngưỡng mộ, ít nhất là trong trường hợp của những con người nổi tiếng hơn thừa hưởng nó. Sự mâu thuẫn trong tư tưởng của cậu ta đối với tình dục chịu ảnh hưởng của những danh nhân mà tôn sùng hoang dã bằng một thứ đam mê thiên kiến —Thoreau (một người vẫn còn trinh cho tới cuối cuộc đời) và rồi nhà tự nhiên học John Muir, dường như là nổi bật hơn cả — chứ đừng nói tới vô số những nhà du hành, nhà khám phá, và những nhà thám hiểm ít danh tiếng hơn khác. Không giống như một số ít người bị mê hoặc bởi thiên nhiên hoang dã, McCandless có vẻ bị tác động bởi nhiều niềm đam mê mà làm mờ nhạt đi ham muốn tình dục nơi cậu. Tính nóng nảy nơi cậu, theo một khía cạnh nào đó, là quá mạnh mẽ để được làm dịu bởi mối quan hệ với con người. McCandless có thể bị hấp dẫn bởi sự ân cần nơi những người phụ nữ, nhưng nó hoàn toàn mờ nhạt bên khung cảnh hoang dã của thiên nhiên, với bản thân cả vũ trụ này. Và vì thế mà cậu hướng về phương bắc, về Alaska.

McCandless cam đoan với cả Westerberg và Borah rằng khi chuyến đi đến phương bắc của cậu kết thúc, cậu sẽ quay trở về South Dakota, và ở đó ít nhất trong cả mùa thu. Còn sau đó nữa, thì chưa nói được.

“Tôi có ấn tượng rằng chuyến phiêu lưu tới Alaska này sẽ là chuyến thám hiểm lớn cuối cùng trong đời cậu ấy,” Westerberg bày tỏ, “và rằng cậu ấy có ý định ổn định cuộc sống một chút. Cậu ấy từng tâm sự với tôi rằng cậu ấy sẽ viết một cuốn sách về các chuyến đi của mình. Rằng cậu ấy thích Carthage. Với bằng cấp của cậu ấy, chẳng có ai lại nghĩ rằng cậu ấy sẽ làm việc ở cái xưởng xay xát vớ vẩn này suốt đời. Nhưng chắc chắn là cậu ấy dự định quay lại đây một thời gian, phụ giúp chúng tôi, và tính toán những bước đi kế tiếp.”

Tuy vậy, mùa xuân đó, tâm tư của McCandless chỉ gói gọn trong Alaska. Cậu nói về chuyến đi bất cứ khi nào có thể. Cậu tìm đến những thợ săn giàu kinh nghiệm trong thị trấn và tham khảo các lời khuyên của họ về săn bắt, ngụy trang trước dã thú, chế biến thịt. Borah lái xe đưa cậu đến Kmart ở Mitchell để mua các trang thiết bị cần thiết cuối cùng.

Vào giữa tháng 4, Westerberg vừa bận rộn lại vừa thiếu người, nên anh ta đề nghị McCandless hoãn chuyến đi lại và làm việc cho anh thêm một hoặc hai tuần nữa. McCandless chẳng buồn cân nhắc tới lời đề nghị này. “Một khi Alex đã ra quyết định, thì chẳng có gì làm cậu ta đổi ý được,” Westerberg than thở. “Tôi còn đề nghị sẽ mua cho cậu ấy vé máy bay đi Fairbanks, mà sẽ cho phép cậu ấy có thể làm thêm mười ngày nữa mà vẫn tới được Alaska vào cuối tháng 4, nhưng cậu ấy cứ khăng khăng, ‘Không, tôi muốn bắt xe đi nhờ về phía bắc. Dùng máy bay là gian lận. Nó sẽ làm hỏng ý nghĩa của chuyến đi này.’

Hai đêm trước khi McCandless dự tính đi về phương bắc, Mary Westerberg, mẹ của Wayne, mời cậu tới nhà bà dùng bữa tối. “Mẹ tôi thường không thích các nhân viên của tôi,” Westerberg nói, “và thực ra thì bà cũng chẳng hào hứng lắm về cuộc gặp gỡ với Alex. Nhưng tôi cứ nài nỉ bà, nói rằng ‘Mẹ phải gặp thằng nhóc này đi,’ và cuối cùng thì bà cũng đồng ý mời cậu ấy tới dùng bữa. Họ hợp nhau ngay khi mới gặp. Hai người bọn họ nói chuyện không ngừng nghỉ suốt năm tiếng đồng hồ.”

“Ở cậu ấy có một điều gì đó vô cùng cuốn hút,” Bà Westerberg giải thích, bà ngồi bên một chiếc bàn rất tinh xảo được làm từ gỗ của cây óc chó nơi McCandless đã dùng bữa vào buổi tối hôm đó. “Alex cho tôi cảm giác cậu ấy trưởng thành hơn rất nhiều so với cái tuổi hai mươi tư. Mọi điều mà tôi nói ra, cậu ấy đều muốn hiểu rõ hơn ý định của tôi, về việc tại sao tôi lại nghĩ như thế này hay thế kia. Cậu ấy khao khát được tìm hiểu mọi thứ. Không giống như hầu hết chúng ta, cậu ấy là loại người luôn kiên trì với đức tin của mình.”

“Chúng tôi nói chuyện hàng giờ liền về sách; chẳng có mấy người ở Carthage này lại thích nói về sách. Cậu ấy hào hứng khi nói về Mark Twain. Trời ạ, thật vui khi được gặp cậu ấy; tôi cứ muốn cậu ấy ngồi lại mãi với tôi. Tôi đã rất mong được gặp lại cậu bé vào mùa thu này. Tôi không thể xóa được hình ảnh của cậu ấy ra khỏi tâm trí. Khuôn mặt cậu ấy cứ ám ảnh tôi mãi — cậu ấy từng ngồi trên chiếc ghế mà anh đang ngồi đấy. Dù tôi chỉ quen biết cậu ấy trong vài giờ, Alex đã thu phục tôi và tôi cảm thấy thật đau lòng trước cái chết của cậu ấy.”

Trong đêm cuối cùng của McCandless ở Carthage, cậu tiệc tùng thả phanh với hội của Westerberg ở Cabaret. Rượu Jack Daniel được dùng thoải mái. Trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, McCandless ngồi xuống bên chiếc đàn piano, mà cậu chưa bao giờ tiết lộ rằng cậu biết chơi đàn, và bắt đầu đánh một điệu nhạc đồng quê, rồi một điệu ragtime[1], rồi một vài bài của Tony Bennett. Và cậu ấy không phải là một gã say bắt mọi người phải chịu đựng tài năng ảo tưởng của mình. “Alex,” Gail Borah nói, “rất biết chơi nhạc. Ý tôi là cậu ấy chơi cừ là đằng khác. Tất cả chúng tôi đều bị mê hoặc.”

Vào sáng ngày 15 tháng 4, mọi người tập trung tại xưởng xay xát để chào từ biệt McCandless. Ba lô của cậu nặng trĩu. Cậu có khoảng một ngàn dollar giấu ở trong đôi ủng. Cậu gửi lại cuốn nhật ký và album ảnh cho Westerberg giữ cho an toàn và tặng anh chiếc thắt lưng bằng da mà cậu đã làm khi còn ở sa mạc.

“Alex từng ngồi trong quán bar Cabaret và giải thích các ký hiệu trên chiếc thắt lưng này,” Westerberg kể, “như thể đang dịch lại các ký hiệu tượng hình cho chúng tôi. Mỗi một hình ảnh được khắc trên trên đó có cả một câu chuyện dài đằng sau nó.”

Khi McCandless ôm tạm biệt Borah, theo lời chị kể lại, “Tôi thấy cậu ấy khóc. Nó khiến tôi lo lắng. Cậu ấy không dự định đi lâu đến thế; tôi đoán cậu ấy sẽ không khóc nếu như Alex không dự định đón nhận một vài rủi ro lớn nào đó và cậu ấy biết có thể sẽ không thể trở về. Và tôi bắt đầu có linh cảm cảm xấu rằng chúng tôi sẽ chẳng còn cơ hội gặp lại Alex nữa.”

Một chiếc xe bán tải lớn nằm ngay trước cửa; Rod Wolf, một trong những nhân viên của Westerberg, cần đưa hạt giống hoa hướng dương tới Enderlin, North Dakota, và đồng ý đưa McCandless tới đường cao tốc liên bang số 94.

“Khi tôi để cậu ta lại, tôi thấy cái nòng súng trường lớn của cậu ta nhô lên từ sau bờ vai,” Wolf kể lại. “Tôi nghĩ, ‘Trời ạ, làm gì có ai chịu cho cậu đi nhờ khi họ thấy cái thứ kia cơ chứ.’ Nhưng tôi không nói gì cả. Tôi chỉ bắt tay cậu ta, chúc may mắn, và khuyên cậu ta tốt nhất nên viết thư.”

McCandless làm đúng theo lời dặn. Một tuần sau đó Westerberg nhận được một tấm bưu thiếp ngắn gọn với dấu bưu điện từ Montana:

18 tháng 4. Tôi vừa đặt chân tới Whitefish sáng nay trên một chuyến tàu hàng. Dạo này tôi ổn lắm. Hôm nay tôi sẽ lên biên giới và rẽ sang phía bắc để tới Alaska. Anh giúp tôi gửi lời chào tới tất cả mọi người nhé.

BẢO TRỌNG, ALEX

Rồi, vào đầu tháng 5, Westerberg nhận được một tấm bưu thiếp khác, được gửi đi từ Alaska, có hình một con gấu trắng Bắc cực ngay mặt trước. Dấu bưu điện đề ngày 27 tháng 4, 1992. “Gửi lời chào từ Fairbanks!” tấm bưu thiếp viết,

Đây là lần cuối cùng anh nghe thấy tin tức từ tôi Wayne. Tôi tới đây 2 ngày trước. Bắt xe ở Hạt Yukon này thật khó quá. Nhưng cuối cùng thì tôi cũng đến được đây.

Hãy giúp tôi gửi trả lại toàn bộ thư từ về nơi xuất phát. Sẽ là một khoảng thời gian dài trước khi tôi quay lại miền Nam. Nếu chuyến đi này thất bại và anh sẽ không bao giờ gặp lại tôi nữa, tôi muốn anh biết rằng anh là một người tuyệt vời. Tôi từ đây [sẽ] đi vào vùng hoang dã.

ALEX.

Cũng cùng ngày hôm đó McCandless gửi đi một tấm thiệp với cùng một thông điệp tới Jan Burres và Bob:

Chào Mọi người!

Đây là lần liên lạc cuối cùng mà mọi người đón nhận từ cháu. Bây giờ cháu sẽ bước chân tới cuộc sống nơi hoang dã. Mọi người hãy bảo trọng nhé, thật hạnh phúc khi được quen biết cô chú.

ALEXANDER.


[1] ragtime: âm nhạc của người da đen Mỹ. Bob Marley là huyền thoại của dòng nhạc này.

//

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: