MẶT TRỜI VẪN MỌC – Chương 16

CHƯƠNG 16 (1)

 Image

Vào buổi sáng trời đổ mưa. Sương mù từ biển xâm nhập dãy núi. Đỉnh núi chìm khuất giữa biển sương. Cả thung lũng thật buồn tẻ và ảm đảm, và hình dạng của cây cối và nhà cửa dường như cũng biến đổi ít nhiều. Tôi đi ra khỏi trung tâm thị trấn để nhìn thời tiết. Thời tiết xấu đang tiến qua những đỉnh núi từ ngoài biển.

Lá cờ trên quảng trường ướt sũng rũ xuống bên cây cột màu trắng và các tấm biểu ngữ cũng sũng nước và rủ xuống trước những hiên nhà, và giữa cơn mưa phùn nước ầm ập trút xuống và đẩy lui mọi người về phía mái hiên và tạo ra những vũng nước trên quảng trường, và mấy con đường ướt đẫm và u tối và vắng lặng; fiesta cứ tiếp diễn. Nó vẫn diễn ra trong tiếng mưa rơi.

Các chỗ ngồi đẹp ở đấu trường đã đầy chật người yên vị dưới cơn mưa mà ngắm nhìn những vũ công và ca sĩ vùng Basque [1] và Navarra [2] nơi ngã tư đường, và sau đó là những vũ công của Val Carlos [3] trong bộ trang phục truyền thống nhảy múa xuống phố trong mưa, tiếng trống vang lên trống rỗng và ảm đạm, và người đứng đầu ban nhạc di chuyển đằng trước trên con ngựa lớn đang cất những bước nặng nề, trang phục của họ ướt lướt thướt, tấm vải phủ lưng ngựa cũng bị nước mưa làm cho ướt đẫm. Đám đông đang ở trong quán café khi những vũ công bước vào, và ngồi xuống, những cái chân bó chặt thứ vải màu trắng duỗi dưới gầm bàn, vẩy cho ráo nước những chiếc mũ chuông, và hong những chiếc áo khoác màu đỏ và tím của họ lên ghế cho khô. Bên ngoài mưa tuôn tầm tã.

Tôi từ bỏ đám đông nơi quán café và quay về khách sạn và tắm rửa để chuẩn bị đi ăn tối. Tôi đang cạo râu thì có tiếng gõ cửa.

“Mời vào,” tôi nói.

Montoya bước vào.

“Ông khỏe không?” ông ta hỏi.

“Vâng,” tôi trả lời.

“Hôm nay chẳng có trận nào cả.”

“Không,” tôi nói, “chẳng có gì ngoài mưa cả.”

“Các bạn ông đâu rồi?”

“Họ đang ở Iruña.”

Montoya mỉm cười xấu hổ.

“Ông xem này,” ông ta nói. “Ông có biết ông đại sứ Mỹ không?”

“Có,” tôi nói. “Ai cũng biết ông ấy cả.”

“Giờ ông ấy đang ở đây.”

“Vâng,” tôi nói. “Ai cũng thấy họ cả.”

“Tôi cũng gặp họ rồi,” Montoya nói. Ông không nói gì nữa. Tôi tiếp tục cạo râu.

“Ông ngồi đi,” tôi mời. “Để tôi gọi rượu lên.”

“Thôi, tôi phải đi ngay đây.”

Tôi đã cạo râu xong và cúi đầu xuống bồn rửa và rửa mặt bằng nước lạnh. Montoya đứng đó nhìn tôi trông càng xấu hổ hơn.

“Ông ạ,” ông ta nói. “Tôi vừa nhận được lời nhắn của họ từ khách sạn Grand Hotel rằng họ muốn mời Pedro Romero và Marcial Lalanda [4] tới uống nước sau bữa tối nay.”

“Ồ,” tôi nói, “điều này chẳng ảnh hưởng đến Marcial lắm.”

“Marcial ở San Sebastian cả ngày hôm nay. Anh ta đi xe với Marquez từ sáng. Tôi không nghĩ là họ sẽ quay lại vào buổi nay.”

Montoya đứng đó đầy ngại ngùng. Ông đợi tôi nói gì đó.

“Ông đừng nhắn lại điều ấy với Romero,” tôi gợi ý.

“Ông nghĩ thế ư?”

“Hoàn toàn chắc chắn.”

Montoya rất hài lòng.

“Tôi muốn hỏi ý kiến ông vì ông là người Mỹ,” ông thanh minh.

“Ở địa vị ông tôi cũng sẽ làm như thế.”

“Nghe này,” Montoya nói. “Người ta sẽ làm hỏng một cậu bé như vậy. Họ không hiểu được giá trị của cậu ấy. Họ không hiểu được ý nghĩa của cậu ấy. Bất kỳ một người nước ngoài nào cũng có thể tâng bốc cậu ta. Mấy cậu bé ấy bắt đầu lên như diều gặp gió tại cái khách sạn Grand Hotel này, và trong một năm thế là xong.”

“Như Algabeno,” tôi nói.

“Vâng, giống như Algabeno [5].”

“Bọn họ đều thế cả,” tôi nói. “Dưới kia có một bà người Mỹ cũng bắt đầu nuôi sở thích sưu tầm các đấu sĩ.”

“Tôi biết. Họ chỉ muốn mấy người trẻ.”

“Vâng,” tôi nói. “Những anh già đều béo cả.”

“Hoặc là điên giống Gallo [6].”

“À,” tôi nói, “thế thì đơn giản thôi. Tất cả những gì ông cần làm là đừng chuyển lời mời cho cậu ta.”

“Cậu ta rất được,” Montoya nói. “Cậu ấy phải ở bên người của cậu ấy. Cậu ấy không nên dính vào những thứ vớ vẩn như thế.”

“Thế ông không muốn uống gì thật à?” tôi hỏi.

“Thôi,” Montoya trả lời, “tôi phải đi thôi.” Rồi ông ra ngoài.

Tôi xuống nhà và đi ra cửa và rảo bước quanh quảng trường dưới những hàng hiên. Trời vẫn còn mưa. Tôi nhìn vào quán Iruna để tìm bọn họ nhưng không có ai ở đó, tôi lại đi vòng quanh quảng trường để trở về khách sạn. Họ đang ngồi ăn tối trong phòng ăn lầu dưới.

Họ đều bỏ xa tôi và chẳng ích gì khi cố bắt kịp họ. Bill gọi người vào đánh giày cho Mike. Những người đánh giày đứng giữ cánh cửa mở toang ra con phố và mỗi người mà Bill gọi tới đều tận tụy phụ vụ Mike.

“Đây là lần thứ mười một đôi ủng của tôi bị đem ra chùi,” Mike kể lể. “Tôi phải công nhận rằng Bill là một tên khốn.”

Những người đánh giày đã loan tin khắp cả con phố. Người này nối đuôi người kia tiến tới.

“Limpia botas [7]?” anh ta nói với Bill.

“Không,” Bill trả lời. “Cho Señor [8] này.”

Người đánh giày quỳ xuống bên người đồng nghiệp và bắt đầu lau chiếc ủng kia của Mike giờ đang bóng loáng lên dưới ánh đèn.

“Bill đúng là một tay hài hước,” Mike thừa nhận.

Tôi uống rượu vang đỏ, và ngồi sau họ tôi cảm thấy đôi chút không thoải mái về cái chuyện đánh giày này. Tôi nhìn quanh căn phòng. Pedro Romero ngồi ở bàn bên cạnh. Cậu ta đứng dậy khi tôi gật đầu chào, và mời tôi sang ngồi cùng và gặp một người bạn của cậu. Bàn cậu nằm ngay cạnh bàn tôi, gần như là chạm nhau. Tôi gặp người bạn, một nhà phê bình môn đấu bò đến từ Madrid, một người đàn ông nhỏ con với khuôn mặt buồn rầu. Tôi bảo với Romero là tôi rất thích cách đấu của cậu, và cậu ta tỏ ra rất hài lòng. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Tây Banh Nha và nhà phê bình kia biết một ít tiếng Pháp. Tôi với sang bàn của chúng tôi để lấy chai rượu, nhưng nhà phê bình ngăn tay tôi lại. Romeo bật cười.

“Ông hẵng uống với chúng tôi nhé,” cậu ta nói bằng tiếng Anh.

Cậu rụt rè với vốn tiếng Anh của mình, nhưng cậu thực sự hài lòng về nó, và khi chúng tôi bàn luận cậu nói ra những từ mà cậu không chắc lắm, và hỏi tôi về ý nghĩa của chúng. Cậu rất băn khoăn về sự dịch nghĩa chính xác sang tiếng Anh của cụm từ Corrida de toros. Đấu bò là từ mà cậu nghĩ tới. Tôi giải thích rằng đấu bò trong tiếng Tây Ban Nha là ‘lidia’ của một ‘toro’. Từ Tây Ban Nha ‘corrida’ có nghĩa là cuộc chạy của con bò trong tiếng Anh – dịch sang tiếng Pháp là ‘Course de taureaux’. Nhà phê bình thêm vào. Trong tiếng Tây Ban Nha không có từ để chỉ đấu bò.

Pedro Romero kể rằng cậu học được một ít tiếng Anh ở Gibraltar [9]. Cậu được sinh ra ở Ronda [10]. Nơi đấy không xa Gibraltar cho lắm. Cậu bắt đầu sự nghiệp đấu bò ở Malaga [11] tại một trường huấn luyện. Cậu mới vào nghề được ba năm. Tây phê bình trêu cậu về số tần suất biểu hiện Malagueño [12] mà cậu dụng tới. Cậu mười chín tuổi, cậu nói. Anh trai cậu đi cùng với cậu như một banderillero [13], nhưng anh ta không ở khách sạn này. Anh ta ở tại một khách sạn khác nhỏ hơn cùng với những người phụ tá khác của Romero. Cậu ta hỏi tôi rằng tôi đã thấy cậu trên đấu trường chưa. Tôi trả lời mới chỉ có ba lần. Thực ra là mới có hai, nhưng tôi không muốn giải thích sau khi phạm lỗi.

“Những lần khác ông xem tôi ở đâu? Ở Madrid à?”

“Vâng,” tôi nói dối. Tôi đã đọc bài báo về hai lần xuất hiện của cậu ở Madrid trên tạp chí đấu bò, nên tôi cũng xoay xở được.

“Lần đầu hay lần hai ạ?”

“Lần đầu.”

“Lần đấy tôi tệ lắm,” cậu thú nhận. “Lần thứ hai thì có khá hơn. Anh còn nhớ không?” Cậu quay sang tay phê bình.

Cậu không hề xấu hổ. Cậu nói về công việc của mình như thể nó không thuộc về cậu. Ở cậu ta không có gì là tự phụ hay khoe khoang cả.

“Tôi vui lắm vì ông thích cách đấu của tôi,” cậu nói. “Nhưng ông vẫn chưa thấy đâu. Ngày mai, nếu tôi có được một con bò tốt, tôi sẽ cố thể hiện cho ông thấy.”

Khi nói cậu mỉm cười, lo lắng không biết tay phê bình hoặc tôi có cho rằng cậu đang tự phụ hay không.

“Tôi rất mong chờ,” tay phê bình nói. “Tôi rất mong bị cậu thuyết phục.”

“Ông ấy không ưa tôi lắm.” Romero quay sang tôi. Cậu rất nghiêm túc.

Tay phê bình giải thích rằng ông ta rất thích cậu, nhưng cho tới giờ thì niềm yêu thích ấy chưa được trọn vẹn cho lắm.

“Anh cứ đợi đến ngày mai mà xem, nếu như tôi được một con bò tốt.”

“Ông đã nhìn thấy bò của ngày mai chưa?” tay phê bình hỏi tôi.

“Vâng. Tôi đã thấy chúng được đưa tới.”

Pedro Romero cúi đầu về trước.

“Ông nghĩ sao?”

“Rất tốt,” tôi nói. “Vào khoảng hai mươi sáu arroba [14]. Sừng rất ngắn. Cậu chưa nhìn chúng à?”

“À, vâng,” Romero trả lời.

“Không phải là hai mươi sau aroba đâu,” tay phê bình nhận định.

“Không,” Romero đồng ý.

“Chúng có cặp sừng bằng chuối,” tay phê bình tiếp tục.

“Anh gọi chúng là chuối ư?” Romero hỏi. Cậu quay sang tôi và cười. “Ông không gọi đấy là chuối chứ?”

“Không,” tôi nói. “Chúng là sừng mà.”

“Chúng ngắn quá,” Pedro Romero nói. “Rất, rất ngắn. Nhưng, chúng không phải là chuối đâu. ”

“Jake này,” Brett gọi từ bàn bên, “anh đang bỏ rơi chúng tôi đấy à.”

“Đợi chút,” tôi nói. “Bọn này đang nói về lũ bò.”

“Anh xuất chúng quá.”

“Nói với cậu ta là bò không có dái,” Mike hét lên. Anh ta lại xỉn.

Romero nhìn tôi dò hỏi.

“Say ấy mà,” tôi nói. “Borracho! Muy borracho! [15]”

“Anh nên giới thiệu mấy người bạn đi,” Brett nói. Nàng không dời mắt khỏi Pedro Romero. Tôi mời họ dùng cà phê với chúng tôi. Họ đều đứng lên. Khuôn mặt của Romero rám nắng. Cậu cư xử rất lịch sự.

Tôi giới thiệu mọi người với nhau và họ ngồi xuống, nhưng không có đủ chỗ, nên tất cả chúng tôi dời sang chiếc bàn lớn kê sát tường để uống cà phê. Mike gọi một chai Fundador [16] và cốc cho tất cả mọi người. Mấy cuộc đối thoại đượm hơi men.

“Bảo với cậu ta là tôi cho rằng viết lách là thứ đáng tởm,” Bill nói. “Nào, nói đi. Cậu bảo với cậu ta là tôi thấy rất nhục vì là nhà văn đi. ”

Pedro Romero đang ngồi cạnh Brett và nghe nàng nói.

“Nào. Nói với với cậu ta đi!” Bill giục.

Romero mỉm cười nhìn lên.

“Quý ông đây,” tôi nói, “là nhà văn.”

Romero tỏ ra ấn tượng. “Ông này nữa, cung vậy,” tôi nói, chỉ vào Cohn.

“Ông ấy trông giống Villalta [17],” Romero nói, nhìn vào Bill. “Rafael này, ông ấy nom như Villalta ấy nhỉ?”

“Tôi chẳng thấy giống gì cả,” tay phê bình trả lời.

“Thật đấy,” Romero  nói bằng tiếng Tây Ban Nha. “Ông ấy giống Villalta lắm. Thế còn cái ông đang say thì làm gì ạ?”

“Chẳng làm gì cả.”

“Có phải vì thế mà ông ấy uống nhiều không?”

“Không. Anh ta đang chờ để cưới bà này.”

“Bảo với cậu ta là bò không có dái!” Mike hét, say lử khử, từ phía cuối bàn.

“Ông ấy nói gì vậy?”

“Ông ấy say ấy mà.”

“Jake,” Mike gọi. ” Bảo với cậu ta là bò không có dái!”

“Cậu hiểu được không?” tôi hỏi.

“Có.”

Tôi đoan chắc là không, cho nên không sao cả.

“Bảo với cậu ta là Brett muốn xem cậu ta mặc cái quần xanh kia.”

“Bớt om sòm đi, Mike.”

“Bảo với cậu ta là Brett muốn biết cậu ta chui vào cái quần đó thế nào lắm.”

“Im đi.”

Trong suốt lúc đó Romero gõ ngón tay vào cốc và nói chuyện với Brett. Brett nói tiếng Pháp và cậu ta nói tiếng Tây Ban Nha và một ít tiếng Anh, và cười.

Bill rót đầy rượu vào cốc.

“Nói với cậu ta Brett muốn vào –”

“Ôi, im đi, Mike, vì Chúa!”

Romero ngước lên mỉm cười. “Im đi! Tôi biết câu này,” cậu nói.

Ngay lúc ấy Montoya bước vào. Ông mỉm cười với tôi, rồi khi nhìn thấy Pedro Romero với một ly cognac lớn trong tay, đang ngồi cười giữa tôi và một phụ nữ với bờ vai để trần, bên chiếc bàn đầy những gã say. Ông chẳng buồn gật đầu chào.

Montoya bước ngay ra khỏi phòng. Mike đứng lên, tay nâng ly rượu. “Tất cả hãy uống vì –” anh bắt đầu. “Pedro Romero,” tôi tiếp. Mọi người đứng cả dậy. Romero nhận lời chúc mừng một cách trang trọng, và chúng tôi cụng ly và uống cạn, tôi vội vàng một chút bởi vì Mike đang cố nói rõ rằng đấy không phải là những gì mà anh muốn uống mừng. Nhưng mọi chuyện kết thúc êm xuôi, và Pedro Romero bắt tay với mọi người và cậu rời đi cùng với tay phê bình.

“Trời ơi! cậu ta dễ thương quá,” Brett nhận xét. “Và em muốn ngắm cậu ta diện mấy bộ quần áo đấu sĩ ghê. Cậu ta chắc phải dùng đến bót đi giày [18].”

“Anh đã cố nói thế với cậu ta đấy chứ,” Mike bắt đầu. “Thế mà Jake cứ cản anh mãi. Sao cậu lại ngăn tôi hử? Cậu tưởng là cậu nói tiếng Tây Ban Nha hay hơn tôi chăng?”

“Ôi, im đi, Mike! Có ai tranh lời anh đâu.”

“Không, tôi muốn chuyện này phải đâu ra đấy mới được.” Anh quay khỏi tôi. “Cậu có nghĩ là cậu có giá trị lớn về mặt nào đó không, Cohn? Cậu có nghĩ là cậu thuộc về bọn tôi ở nơi này không? Những người chỉ muốn có một quãng thời gian vui vẻ? Vì Chúa đừng ầm ĩ lên thế, Cohn!”

“Ôi, thôi đi, Mike,” Cohn nói.

“Cậu nghĩ là Brett muốn cậu ở đây à? Cậu nghĩ là cậu cùng phe với bọn này à? Sao cậu không nói gì cả thế?”

“Tôi đã nói tất cả những gì tôi cần nói vào đêm kia rồi, Mike.”

“Tôi không phải là một kẻ trong đám văn sĩ các cậu.” Mike đứng đó run rẩy, dựa vào bàn. “Tôi không phải thằng thông minh. Nhưng tôi biết khi nào mình không được chào đón. Sao cậu không thấy lúc nào thì mình không được chào đón thế, Cohn? Đi đi. Biến đi, vì Chúa. Cậu mang cái bộ mặt Do Thái buồn thiu ấy đi đi. Các người không thấy là tôi đúng à?”

Anh ta nhìn chúng tôi.

“Đúng rồi,” tôi nói. “Ta ra quán Iruña thôi.”

“Không. Cậu không nghĩ là tôi đúng à? Tôi yêu người phụ nữ này.”

“Ôi, đừng có lại bắt đầu thế nữa. Chuyện này xong rồi mà, Michael,” Brett nói.

“Cậu không nghĩ là tôi đúng à, Jake?”

Cohn vẫn ngồi ở bàn. Mặt gã có sắc tái, vàng ệch khi gã bị sỉ nhục, nhưng theo một cách nào đó thì gã đang thích thú. Cái sự non trẻ, dũng cảm khi say rượu. Đó là chuyện tình giữa gã với một người phụ nữ có tước hiệu.

“Jake,” Mike nói. Anh gần như khóc. “Cậu biết là tôi đúng mà. Nghe này, cậu!” Anh quay qua Cohn: “Cút đi! Cút ngay!”

“Nhưng tôi không đi đâu cả, Mike ạ,” gã Cohn trả lời.

“Thế thì tôi sẽ khiến cậu biến!” Mike bắt đầu đi quanh bàn tiến về phía gã. Cohn đứng dậy và đặt ly của gã xuống. Gã đứng đợi, mặt gã tái lại, bàn tay gã hạ xuống khá thấp, tự hào và rắn rỏi đợi chờ cuộc tấn công, sẵn sàng chiến đấu vì người phụ nữ mà gã yêu.

Tôi ôm lấy Mike. “Nào, đi ra quán café thôi,” tôi nói. “Anh không được đánh hắn ở khách sạn này.”

“Tốt!” Mike nói. “Hay đấy!”

Chúng tôi rời đi. Tôi nhìn lại khi Mike vấp vào bậc cầu thang và thấy Cohn lại nâng ly lên. Bill ngồi bên bàn rót thêm rượu Fundador vào ly. Brett ngồi đó, dõi mắt vào hư vô.


Chú thích:

[1] Basques: người sống ở miền tây Pyrenees thuộc TBN và Pháp

[2] Navarra: một tỉnh nằm ở đông bắc của Tây Ban Nha

[3] Luzaide/ Valcarlos: một thị trấn ở Navarra, chỉ cách biên giới nước Pháp một vài km cũng như làng Arnéguy.

[4] Marcial Lalanda del Pino (1903 – 1990) là một đấu sĩ bò tót người Tây Ban Nha. Ernest Hemingway đã viết về ông như sau: “Lalanda có thể đối phó với bất kỳ con bò nào và các trận đấu của ông ta đều rất thành thực và đẹp mắt. Là một trong những đấu sĩ tài hoa nhất của Tây ban Nha với sự trọn vẹn và khoa học trong lối chiến đấu, không còn nghi ngờ gì nữa, ông là bậc thầy của cuộc chiến mà anh có thể phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình.”

[5] Algabeno: một dũng sĩ đấu bò

[6] Rafael Gómez Ortega, (16/7/1882 – 25/5/1960) có biệt danh là El Gallo (“gà trống”), một đấu sĩ bò tót nổi tiếng đầu những năm đầu thế kỷ 20. Ông xuất thân từ một trong những gia đình đấu sĩ nổi tiếng, có cha là Fernando Gómez García và em trai José Gómez Ortega. Ông được nhớ đến với những kỹ thuật chiến đấu rất ‘quái chiêu’ như espantada (chạy loạn), mà đơn giản là việc ông bỏ chạy khi con bò được đưa sân đấu trường. Ngoài ra còn có cách đấu với bò tót từ trên một cái ghế. Ông cũng được nhớ đến với lời nói, “tất cả những nghệ sĩ chúng ta đều có những ngày không may.” Các trận đấu của ông được đánh giá là có tính giải trí cao đối với khán giả, và ông tuyên bố nghỉ hưu tới bảy lần bởi “tinh thần thể thao” này. Trong trận đấu cuối cùng của ông vào tháng 10 năm 1918, ông nói rằng ông không đâm con bò vì nó “nháy mắt” với mình. Dĩ nhiên khán giả cho rằng lý do này rất khôi hài, nhưng người em của Ortega, José (biệt hiệu “Joselito El Gallo”), khi ấy khá lo lắng về danh dự của gia đình, đã nhảy vào vòng đấu và giết chết con bò.

Có một câu nói của Ortega giờ đây đã trở thành thành ngữ của người Tây Ban Nha: “Lo que no pue ser no pue ser y ademas es imposible”, có nghĩa là “điều không thể, là không thể, và vả chăng là bất khả thi “.

 

[7] Limpia botas: (tiếng TBN) Ông đánh giày ạ?

[8] Señor: (tiếng TBN) quý ông

[9] Gibraltar: một bán đảo nhỏ ở cực nam của TBN, kéo vào vùng Địa Trung Hải

[10] Ronda: một thị trấn thuộc tỉnh Andalusia, ở phía nam của Tây Ban Nha

[11] Malaga: một cảng biển ở miền nam TBN, thuộc Địa Trung Hải

[12] Malagueño: (tiếng TBN) loại rượu nho Malaga nguyên chất

[13] banderillero: (tiếng TBN) một nhân vật trong trận đấu bò tót mà hỗ trợ một đấu sĩ bằng cách đâm lao, hoặc lao móc, vào con bò khi nó sắp chết

[14] arroba: đơn vị đo lường cổ Tây Ban Nha, 1 arroba = 11,34 kg

[15] Borracho! Muy borracho! (tiếng TBN) Say! Rất say!

[16] Fundador: theo tiếng TBN có nghĩa là ‘Suối nguồn’. Trước đây loại rượu này có tên là ‘Brandy de Jerez’ khi được đưa ra thị trường vào năm 1874. Đến nay loại rượu này được tiêu thụ trên 30 quốc gia và được hàng triệu người yêu thích

 

[17] Villalta: Có thể là Nicanor Villalta (1897 – 1980), đấu sĩ bò tót được xem là suất sắc nhất của TBN trong những năm 1920 – 1930. Khi nghỉ hưu vào năm 1935 ông đã tham gia đấu bò được 13 năm. Sau khi nội chiến kết thúc, ông tiếp tục tham gia thi đấu trong 4 năm nữa. Sau này ông làm giám đốc của một đấu trường ở Madrid và tham gia công tác đào tạo các đấu sĩ trẻ. Ông mất năm 82 tuổi. Cũng có ý kiến cho rằng Villalta ở đây chỉ là một nhân vật hư cấu vì đây cũng là tên một người con trai của Hemingway.

[18] bót đi giày: dụng cụ có một lưỡi cong được dùng để giúp đưa gót chân vào trong giày dễ dàng

//

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: