CHƯƠNG 15 (1)

 Image

 

Vào trưa Chủ nhật, ngày 6 tháng 7, lễ hội bùng nổ. Không còn từ nào khác có thể diễn tả được nó. Người ta đổ bộ đến nơi này suốt cả ngày từ những vùng quê, nhưng họ giống hệt người dân trong thị trấn nên anh không thể nhận ra. Quảng trường yên ả dưới ánh mặt trời nóng bỏng như mọi ngày khác. Những người nông dân xếp thành hàng dài trước quán rượu. Ở đó họ uống, sẵn sàng cho lễ hội. Họ mới vừa tới từ dưới đồng bằng và miền trung du và cần thiết rằng họ thực hiện việc chuyển đổi các giá trị thật từ từ. Họ không thể ngay lập tức bắt đầu tiêu tiền với mức giá của các quán café. Họ phải làm cho mấy đồng tiền của mình thật có ý nghĩa nơi mấy quán rượu. Tiền bạc vẫn còn mang một giá trị nhất định sau những giờ lao động cực nhọc và những giạ ngũ cốc bán ra. Về sau trong lễ hội thì họ tiêu tiền vào cái gì, hay là họ mua chúng ở đâu sẽ không còn là một vấn đề nữa.

Giờ đây trong cái ngày mà lễ hội San Fermin được bắt đầu thì họ đang ngồi trong cửa hàng rượu ở một con phố nhỏ của thị trấn từ lúc sáng sớm. Đi xuống phố trong buổi sáng theo dòng người vào thánh đường, tôi nghe thấy tiếng họ hát từ cái cửa để mở của quán rượu. Họ đang khởi động. Có rất nhiều người trong đám diễu hành lúc mười một giờ. San Fermin còn là một lễ hội tôn giáo.

Tôi đi xuống đồi từ thánh đường và lên phố tới quán café bên quảng trường. Còn cách một quãng là tới buổi trưa. Robert Cohn và Bill đang ngồi bên một trong những chiếc bàn. Những chiếc bàn có mặt đá cẩm thạch và những chiếc ghế liễu gai đã biến đi đâu mất. Họ thay thế chúng bằng những chiếc bàn sắt và những chiếc ghế gấp. Quán café giống như một trận địa trong những dịp thế này. Ngày hôm nay anh bồi không để cho anh được yên ổn đọc sách cả buổi sáng mà không hỏi thăm rằng liệu anh có muốn gọi đồ uống hay không. Ngay khi tôi vừa ngồi xuống một anh bồi tiến đến.

“Các cậu uống gì?” tôi hỏi Bill và Robert.

“Sherry[1],” Cohn trả lời.

“Jerez[2],” tôi nói với anh bồi.

Trước khi người bồi bàn mang ra rượu sherry, loạt pháo hiệu tuyên bố mở màn lễ hội được phóng lên từ phía quảng trường. Nó nổ vang và một vòng khói lớn bay lên trên Nhà hát Gayarre[3], từ phía bên kia của plaza. Cụm khói lơ lửng trên bầu trời như một mảnh bom nổ, và khi tôi nhìn nó, một quả pháo khác lại được phóng lên cao hơn, từ từ tụ khói trong ánh mặt trời sáng chói. Tôi nhìn thấy ánh chớp chói lòa khi nó nổ tung và một cụm mây khói nhỏ khác xuất hiện. Vào lúc quả pháo thứ hai nổ có rất nhiều người dưới mái hiên quảng trường, mà trước đó một phút vẫn hoàn toàn vắng vẻ, khiến người bồi bàn, phải nâng chai rượu lên quá đầu anh ta, chật vật lắm mới đến được chỗ chúng tôi. Người ta đổ về quảng trường từ mọi phía, và bên dưới con phố chúng tôi nghe thấy tiếng sáo và tiếng tiêu và tiếng trống nổi lên. Họ đang chơi điệu riau-riau[4], tiếng sáo chói tai và trống giã đều đều, và theo sau là những người đàn ông và những cậu trai đang nhảy múa. Khi tiếng tiêu ngừng lại tất cả bọn họ đều ẩn nấp đâu đó dưới phố, và tiếng sáo và tiếng tiêu rít lên, và khi tiếng trống buồn tẻ, khô khốc, rỗng không lại đánh nhịp, tất cả bọn họ đứng vụt dậy và nhảy múa. Trong đám đông anh chỉ nhìn thấy được phần đầu và bờ vai nhô lên rồi hạ xuống của các vũ công.

Trên quảng trường một người đàn ông, cúi xuống, đang chơi sáo trúc, và lẽ trẻ con theo sau ông ta, hò hét, giật giật quần áo ông. Ông ta ra khỏi quảng trường, bọn trẻ vẫn bám theo, và kéo nhau đi qua quán café và xuống con đường kế bên. Chúng tôi nhìn thấy khuôn mặt rỗ vô hồn của ông ta khi ông ta đi qua chỗ chúng tôi, thổi sáo, bọn trẻ con đi sát phía sau hò hét và kéo quần kéo áo của người đàn ông.

“Ông ta hẳn phải là gã ngốc ở làng,” Bill nói. “Trời ạ! Nhìn kìa!”

Các vũ công bắt đầu tiến tới từ dưới phố. Con đường bị họ làm cho chật ních, tất cả đều là đàn ông. Họ nhảy múa theo đúng nhạc ngay phía sau các nhạc công. Họ thuộc một câu lạc bộ nào đó, và tất cả đều mặc bộ quần áo lao động màu xanh ám khói, nơi cổ quàng khăn màu đỏ, và mang theo một tấm biểu ngữ lớn được gắn vào hai cây gậy. Tấm biểu ngữ nhấp nhô khi họ hòa vòa đám đông.

“Hoan hô Rượu! Hoan hô Người nước ngoài!” là những gì được vẽ trên tấm biểu ngữ.

“Người ngoại quốc ở đâu ra nhỉ?” Robert Cohn thắc mắc.

“Thì chúng mình chứ ai,” Bill trả lời.

Trong suốt thời gian đó pháo hoa liên tục được bắn lên. Các bàn trong quán café chật cứng người. Quảng trường thì vắng tanh và đám đông tràn qua các quán café.

“Brett với Mike đâu ấy nhỉ?” Bill hỏi.

“Để tôi đi tìm họ cho,” Cohn nói.

“Dẫn họ tới đây nhé.”

Fiesta đã chính thức bắt đầu. Nó sẽ tiếp diễn suốt bảy ngày bảy đêm. Những điệu vũ liên tục tiếp diễn, những cuộc chè chén triền miên, và tiếng ồn không bao giờ dứt. Những điều xảy ra chỉ có thể xảy ra trong suốt một lễ hội. Rồi cuối cùng mọi thứ trở thành hư ảo và dường như chẳng điều gì có thể mang lại hậu quả. Cứ như thể việc nghĩ đến hậu quả trong suốt fiesta là vô cùng gàn dở. Trong suốt cả lễ hội anh sẽ có cảm giác rằng, ngay cả vào những lúc yên tĩnh, rằng anh phải hét lên thì người khác mới nghe thấy mình. Và anh cũng có cảm giác đó với bất kỳ hành động nào. Đó là một hội và nó diễn ra trong suốt bảy ngày.

Buổi chiều là lúc diễn ra một đám rước tôn giáo lớn. San Fermin được hộ tống từ nhà thờ này sang nhà thờ khác. Tham gia lễ rước toàn là những chức sắc của nhà thờ, những người quyền cao chức trọng trong cộng đồng và khu vực. Chúng tôi không thấy được họ bởi đám người quá đông. Phía trước đám rước trang nghiêm và cả phía sau nữa là những vũ công nhảy điệu riau-riau. Cả một khối những chiếc áo màu vàng nhảy nhót trong đám đông. Tất cả những gì mà chúng tôi có thể nhìn thấy từ đám rước là đám đông bị dồn ép vào sát lề đường bởi những hình nộm khổng lồ nhân vật tù trưởng da đỏ mà ta vẫn thường trông thấy bên ngoài các cửa hàng bán xì gà, cao ba mươi foot[5], những người Ma-rốc, một Nhà vua và Hoàng hậu quay tròn điệu van-xơ đầy uy nghi trong tiếng nhạc riau-riau.

Tất cả đều đứng bên ngoài nhà nguyện San Fermin nơi đám rước đi qua, bỏ lại những người lính hộ tống, những gã khổng lồ, cùng với những người nhảy múa nghỉ ngơi bên các hình nộm, và đám người lùn di chuyển với những quả bóng lớn của họ qua đám đông. Chúng tôi bước vào trong và có mùi nhang phảng phất và dòng người lại đổ vào nhà thờ, nhưng Brett dừng lại bên bậu cửa bởi nàng không mang theo mũ[6], nên chúng tôi bước ra ngoài và đi dọc con đường dẫn về thị trấn từ nhà nguyện. Con phố chật kín những người ở hai bên đường đang giữ chỗ sau rào ngăn khi đám rước quay trở lại. Một vài vũ công vây tròn quanh Brett và bắt đầu nhảy múa. Họ quàng những vòng tỏi lớn nơi cổ. Họ kéo tay Bill và tôi và lôi chúng tôi vào vòng tròn của họ. Bill bắt đầu nhảy. Tất cả bọn họ đều hát nhịp. Brett cũng muốn nhảy nhưng họ không muốn nàng làm vậy. Họ muốn nàng trở thành một biểu tượng để họ có thể nhảy múa xung quanh. Khi bài hát kết thúc với tiếng hô riau-riau! thật lớn, họ kéo chúng tôi vào cửa hàng rượu.

Chúng tôi đứng bên quầy phục vụ. Họ để Brett ngồi trên một thùng rượu. Bên trong quán rượu mờ tối và đầy đàn ông đang hát hò, những tiếng hát ồm ồm. Đằng sau quầy họ rót rượu ra từ các thùng. Tôi đặt tiền mua rượu xuống quầy, nhưng một người nhặt nó lên và đút lại vào túi tôi.

“Tôi thèm một bình rượu bằng da quá,” Bill nói.

“Có một cửa hàng ở dưới phố,” tôi nói. “Tôi sẽ đi mua vài bình.”

Các vũ công không muốn tôi bước ra. Ba người trong bọn họ ngồi trên một thùng rượu cao bên cạnh Brett, dạy nàng cách uống từ bình rượu da. Họ đeo một chiếc vòng tết bằng tỏi vào cổ nàng. Có ai đó đang cố mời nàng một ly. Một ai đó đang dạy Bill một ca khúc. Hát nó bên tai anh. Gõ nhịp vào lưng Bill.

Tôi giải thích với họ rằng tôi sẽ quay trở lại. Ra ngoài phố tôi đi xuống phố tìm kiếm một cửa hàng bán bình rượu da. Đám đông đen đặc lại trên phần đường dành cho người đi bộ và nhiều cửa hàng đều đóng cửa, và tôi không tìm ra được nó. Tôi đi tới tận nhà thờ, nhìn sang hai bên phố. Rồi tôi hỏi một người đàn ông và ông ta cầm tay tôi dẫn đến trước cửa hàng. Cửa sập đã được kéo xuống nhưng cửa vẫn còn mở.

Bên trong cửa hàng có mùi da mới và nhựa nóng. Một người đàn ông đang đóng dấu những bao rượu thành phẩm. Chúng được treo lên mái nhà thành từng đống. Ông ta lấy xuống một chiếc bình, thổi nó căng phồng lên, vặn chặt miệng bình lại, và nhảy lên nó.

“Thấy không! Nó không hề rỉ nước.”

“Tôi cần thêm một cái nữa. Một cái to nhé.”

Ông ta lấy xuống một cái lớn có thể chứa ít nhất một gallon[7] từ mái nhà. Ông ta thổi phồng nó lên, hai bầu má phồng ra ở hai bên bầu rượu, và đặt cái bota[8] dựa vào lưng ghế.

“Ông định làm gì? Bán chúng ở Bayonne à?”

“Không. Tôi dùng nó để uống rượu.”

Ông ta vỗ vào lưng tôi.

“Tuyệt vời. Tám peseta cho cả hai. Giá rẻ nhất đấy.”

Người đàn ông đang dập khuôn những cái bình mới và ấn vào một cái nút để máy ngừng lại.

“Đúng đấy,” ông ta nói. “Tám peseta là rẻ đấy.”

Tôi trả tiền và bước ra ngoài phố và quay trở lại quán rượu. Bên trong đã tối hơn và chật ních. Tôi không thấy Brett và Bill, và có ai đó nói rằng họ đang ở phòng phía sau. Ở quầy phục vụ một cô gái đổ rượu vào hai cái bình da cho tôi. Một cái chứa được hai lít. Cái kia được năm lít. Đổ rượu vào cả hai bình có giá ba peseta và sáu mươi xu. Có ai đó bên quầy rượu, mà tôi chưa từng gặp bao giờ, đòi bằng được để trả tiền rượu, nhưng cuối cùng tôi cũng tự mình thanh toán được. Người đó cuối cùng mời tôi một ly. Anh ta nhất quyết không chịu cho tôi được mời lại, nhưng nói rằng anh sẵn lòng làm một ngụm từ cái bình rượu mới. Anh nâng cái túi lớn chứa năm lít rượu lên và vặn nó để rượu dốc thẳng vào cổ họng mình.

“Được rồi,” anh ta nói, và trả lại cái bình cho tôi.

Ở phòng trong Brett và Bill đang ngồi trên những chiếc thùng gỗ và vây quanh họ là các nhạc công. Mọi người khoác vai nhau, và cùng ca hát. Mike ngồi bên một chiếc bàn với nhiều người đàn ông mặc áo dài tay, đang ăn món cá hồi trộn hành tây thái lát với dấm. Bọn họ đều uống rượu và vét sạch dầu với dấm bằng mấy mẩu bánh mì.

“Chào, Jake. Xin chào!” Mike gọi. “Tới đây. Tôi muốn cậu gặp các bạn tôi. Chúng tôi vừa dùng xong món tráng miệng.”

Tôi được giới thiệu với những người ngồi quanh bàn. Họ nói tên mình cho Mike và đưa tôi một cái nĩa.

“Đừng có ăn bữa tối của họ nữa, Michael,” Brett kêu lên từ phía mấy thùng rượu.

“Tôi không muốn ăn bữa tối của các vị,” tôi nói khi ai đó đưa nĩa cho tôi.

“Ăn đi mà,” ông ta nói. “Thế anh nghĩ nó ở đây làm chi?”

Tôi mở nắp bình rượu lớn và trao tay. Mỗi người tu một ngụm, nâng cao cái bình rượu bằng da dài cả một cánh tay.

Bên ngoài, cao hơn cả tiếng hát, tôi có thể nghe thấy tiếng nhạc hành lễ đang phát ra.

“Đấy có phải là đám rước không?” Mike hỏi.

“Nada[9],” ai đó nói. “Không có gì đâu. Uống đi. Nâng chai nào.”

“Họ tìm thấy anh ở đâu?” tôi hỏi Mike.

“Có ai đó kéo tôi về đây,” Mike trả lời. “Họ bảo các cậu ở đây.”

“Còn Cohn đâu?”

“Anh ta gục rồi,” Brett nói với lại. “Họ đưa anh ta đi chỗ nào rồi ấy.”

“Hắn đâu?”

“Tôi không biết.”

“Làm sao mà bọn tôi biết được,” Bill nói. “Tôi nghĩ hắn ngỏm rồi.”

“Hắn chưa toi đâu,” Mike nói. “Tôi biết là hắn chưa toi đâu. Chỉ mới bất tỉnh nhân sự trên đống Anis del Mono[10] thôi.”

Khi anh nói Anis del Mono một người đàn ông ngồi bên bàn nhìn lên, lấy ra một chai rượu khỏi áo khoác ngoài, và đưa nó cho tôi.

“Không,” tôi nói. “Không, xin cảm ơn!”

“Có chứ. Có chứ. Arriba[11]! Dốc cạn đi nào!”

Tôi làm một ngụm. Rượu có vị cam thảo và đi đến đâu là nóng đến đấy. Tôi thấy rượu cháy lên trong dạ dày mình.

“Cohn biết đi chỗ quái nào rồi?”

“Tôi không biết,” Mike nói. “Tôi sẽ thử hỏi xem. Người anh em say khướt của chúng tôi đâu?” anh hỏi bằng tiếng Tây Ban Nha.

“Anh muốn thăm anh ta?”

“Vâng,” tôi trả lời.

“Không phải tôi,” Mike nói. “Là ông này.”

Anh chàng Anis del Mono lau mồm và đứng lên.

“Theo tôi.”

Ở căn phòng phái trong Robert Cohn đang ngủ yên lành trên một vài thùng rượu. Căn phòng tối đến mức không thể nhìn rõ được mặt gã. Họ đắp cho gã một chiếc áo và chiếc áo khoác thì được kê dưới đầu. Quanh cổ gã và bên trên lồng ngực là một dây tỏi lớn.

“Cứ để cho anh ấy ngủ,” người đàn ông thì thầm. “Anh ta không sao đâu.”

Hai giờ sau đó Cohn xuất hiện. Gã bước ra căn phòng đằng trước với vòng tỏi vẫn còn quàng trên cổ. Những người Tây Ban Nha reo hò khi thấy gã. Cohn dụi mắt và cười tươi.

“Tôi ngủ quên mất,” gã nói.

“Ồ, không đâu,” Brett nói.

“Cậu chỉ chết thôi,” Bill nói.

“Mình có đi ăn tối không?” Cohn hỏi.

“Cậu muốn ăn à?”

“Ừ. Sao không? Tôi đói rồi.”

“Ăn đám tỏi đi, Robert,” Mike nói. “Tôi bảo này. Cậu ăn tỏi đi.”

Cohn đứng đó. Cơn ngái ngủ khiến gã trông khá ổn.

“Ta đi ăn thôi,” Brett nói. “Em phải đi tắm cái đã.”

“Đi thôi,” Bill nói. “Ta hộ tống Brett về khách sạn nào.”

Chúng tôi chúc ngủ ngon rất nhiều người và bắt tay rất nhiều người và rời đi. Bên ngoài trời tối đen.

“Theo các cậu thì bây giờ là mấy giờ rồi?” Cohn hỏi.

“Bây giờ là hôm sau rồi,” Mike trả lời. “Cậu đã ngủ hai ngày liền.”

“Không,” Cohn phản đối, “mấy giờ rồi?”

“Mười giờ.”

“Mình uống nhiều quá.”

“Ý cậu là bọn tôi uống nhiều quá đấy phỏng. Chứ cậu thì chỉ ngủ.”

Đi xuống con đường tối om dẫn về khách sạn chúng tôi nhìn thấy pháo bông đang được bắn lên từ phía quảng trường. Trên con đường dẫn tới quảng trường chúng tôi nhìn thấy quảng trường chật ních người, đám người ở chính giữa đang nhảy múa.

Chúng tôi có một bữa thịnh soạn ở khách sạn. Đó là bữa đầu tiên mà giá cả tăng lên gấp đôi nhân dịp lễ hội, và có rất nhiều món mới. Sau bữa tối chúng tôi lại xuống phố. Tôi nhớ rằng tôi quyết tâm sẽ thức trắng đêm để xem đàn bò chạy qua vào lúc sáu giờ sáng, và buồn ngủ rũ ra nên tôi quay về phòng lúc bốn giờ. Những người con lại vẫn thức.

Phòng tôi bị khóa và tôi không tìm được chìa khóa, vì thế tôi lên lầu và ngủ trên một chiếc giường trong phòng Cohn. Lễ hội vẫn tiếp diễn bên ngoài kia suốt đêm, nhưng tôi buồn ngủ quá nên không thể thức được cùng nó. Khi tôi thức dậy thì tiếng pháo hiệu rít lên báo hiệu đàn bò đã được thả từ bãi quây ở bên rìa thị trấn. Chúng sẽ chạy qua phố và đi vào đấu trường. Tôi ngủ quá say và tôi thức dậy với cảm giác đã quá muộn. Tôi khoác áo của Cohn vào và bước ra ngoài ban công. Con phố hẹp phía bên dưới trống không. Tất cả các ban công đều đông nghịt người. Đột nhiên một đám đông ùa xuống phố. Họ đang chạy, bám sát nhau. Họ vượt qua con phố và rẽ sang một con phố khác dẫn tới đấu trường và theo sát họ là những người chạy loạn hơn, và rồi một vài người tụt hậu đang cố chạy thật sự. Phía sau họ là một khoảng hẹp, và rồi lũ bò đang phi nước kiệu, chúc đầu lên và xuống. Mọi thứ vượt ra khỏi tầm mắt nơi khúc cua. Một người ngã xuống, lăn tới rãnh nước và nằm im. Nhưng lũ bò tiến ngay sát gần và không nhận ra anh ta. Chúng đang chạy cùng nhau.

Ngay khi họ ra khỏi tầm nhìn của tôi một tiếng vang lớn vọng ra từ phái đấu trường. Nó kéo dài. Rồi cuối cùng có pháo hiệu bắn lên cho biết lũ bò đã vượt qua đám người mà tiến vào đấu trường và bãi quây. Tôi quay lại phòng và nằm xuống giường. Tôi đã đứng trên ban công với chân trần. Tôi biết đám đông đang ùa ra từ phái đấu trường. Quay lại giường tôi tiếp tục ngủ.

Cohn đánh thức tôi dậy khi gã bước vào. Gã bắt đầu cởi quần áo và đi qua phòng và đóng cửa sổ lại vì mấy người đứng trên ban công của ngôi nhà đối diện phía bên kia đường đang nhòm gã.

“Cậu có xem không?” tôi hỏi.

“Có. Bọn tôi ở đấy cả.”

“Có ai bị thương không?”

“Một con bò xông vào đám đông trong đấu trường và lao vào sáu hay tám người gì đó.”

“Brett có thích không?”

“Nó xảy ra nhanh quá nên chẳng đủ thời giờ để chú ý tới người khác.”

“Giá mà tôi ở đó.”

“Bọn tôi không biết cậu đi đâu. Bọn tôi tới phòng cậu nhưng thấy cửa khóa.”

“Các cậu ngồi ở đâu?”

“Bọn tôi đi nhảy ở một câu lạc bộ.”

“Tôi buồn ngủ quá,” tôi nói.

“Trời ơi! Giờ thì tôi đi ngủ đây,” Cohn nói. “Mấy thứ này có bao giờ dừng lại không nhỉ?”

“Trong một tuần thì không.”

Bill mở cửa và thò đầu vào.

“Cậu đi đâu thế, Jake?”

“Tôi xem trên ban công. Nó thế nào?”

“Tuyệt vời.”

“Cậu đi đâu đấy?”

“Ngủ.”

Không một ai lộ diện trước buổi trưa. Chúng tôi ăn ở chỗ mấy cái bàn được đặt dưới mái vòm. Thị trấn đầy những người. Chúng tôi phải chờ tới khi có bàn trống. Sau bữa trưa chúng tôi tới Iruna. Quán đông nghịt, và từ giờ cho tới lúc diễn ra trận đấu sẽ càng đông hơn, và các bàn được đặt sát sạt nhau. Sẽ có tiếng nói chuyện huyên náo từ đám đông phát ra mỗi ngày ngay trước trận đấu. Quán café không náo nhiệt đến vậy vào những thời điểm khác trong ngày, dù cho có đông đúc thế nào đi nữa. Tiếng ồn phát ra liên hồi, và chúng tôi ở giữa chúng và là một phần của chúng.

Tôi đã mua sáu chỗ cho trận đấu. Ba ghế ở barrera[12], ngay hàng ghế đầu tiên, và ba chỗ còn lại là sobrepuertos, ghế ngồi có dựa lưng bằng gỗ, ở nửa phía trên của khán đài. Mike và Brett nên ngồi trên cao trong lần trải nghiệm đầu tiên, và Cohn muốn ngồi cùng với họ. Bill và tôi ngồi ở vị trí barrera, và tôi đưa chiếc vé thừa cho người bồi bàn đem bán. Bill nói gì đó với Cohn về việc nên làm gì và nên nhìn như thế nào thì sẽ không khiến gã phải buồn về mấy con ngựa. Bill đã từng trải qua một mùa đấu bò trước đó.

“Tôi không lo lắng về việc tôi sẽ chịu đựng nó như thế nào. Tôi chỉ sợ là sẽ thấy chán thôi,” Cohn nói.

“Cậu nghĩ thế à?”

“Đừng nhìn lũ ngựa, sau khi mấy con bò đã húc chúng,” tôi dặn Brett. “Em hãy nhìn cuộc tấn công và xem cách người kị mã đâm giáo cố gắng giữ cho con bò ở xa, nhưng đừng nhìn lại cho tới khi con ngựa đã chết nếu nó bị húc.”

“Em hơi hồi hộp về chuyện này,” Brett nói. “Không biết em có xem nổi cả trận đấu không.”

“Em sẽ ổn thôi. Chẳng có gì sẽ làm em khó chịu ngoài phần mấy con ngựa đâu, và với mỗi con bò chỉ diễn ra có vài phút thôi. Chỉ cần không nhìn khi mọi chuyện trở nên xấu đi là được.”

“Cô ấy sẽ ổn thôi,” Mike nói. “Tôi sẽ trông chừng.”

“Tôi không nghĩ là sẽ chán đâu,” Bill an ủi.

“Tôi về khách sạn lấy ống nhòm và bình rượu đây,” tôi nói. “Gặp lại các cậu ở đó nhé. Đừng có lác mắt đấy.”

“Tôi đi với,” Bill nói. Brett cười với chúng tôi.

Chúng tôi đi dưới mái hiên để tránh cái nóng nơi quảng trường.

 


[1] sherry: loại rượu có màu vàng hoặc màu nâu được pha cho nặng thêm, có nguồn gốc từ Tây Ban Nha

[2] jerez: (tiếng TBN) rượu sherry

[3] Theatre Gayarre (Teatro Gayarre): ban đầu nhà hát có tên là ‘Teatro Principal de Pamplona’ (Nhà hát kịch Pamplona) nhưng được đổi tên vào năm 1903 để tôn vinh ca sĩ có giọng nam cao người vùng Roncal tên Julián Gayarre.

[4] Riau-Riau: là một sự kiện truyền thống mà những thành viên hội đồng thành phố cũng tham gia diễu hành từ tòa Thị chính tới nhà thờ San Fermin, đó là một chặng đường dài 500m. Đây là một sự kiện chính thức kể từ năm 1914 cho tới năm 1991. Vào năm 1997, nó lại được khôi phục cho dù không còn thuộc chương trình chính thức nữa. Nhạc điệu của cuộc diễu hành rất chậm bởi vì có quá nhiều người tham gia và đám đông di chuyển rất chậm chạp theo tiếng nhạc – bản “Riau Riau” của nhà soạn nhạc người Áo Waltz. Nghe bài Riau – riau tại đây: Vals de Astráin.

http://www.sanfermin.com/files/Image/xxx/riauriau.mp3

[5] foot: đơn vị đo chiều dài của Anh. 1 foot = 0,3048m

[6] Thời đó quy định khi phụ nữ bước chân vào nhà thờ, thánh đường, v.v đều phải đội mũ hoặc không được để đầu trần.

[7] 1 gallon = 3,78l

[8] bota: (tiếng TBN) bình rượu

[9] Nada: (tiếng TBN) không phải đâu

[10] Anis del Mono: một loại rượu mùi có vị hồi của Pháp hoặc Tây Ban Nha.

[11] Arriba: (tiếng TBN) nâng lên

[12] barrera: (tiếng TBN) chỗ ngồi ngay sát hàng rào

 

 

Advertisements