MẶT TRỜI VẪN MỌC – Chương 13 (tiếp)

CHƯƠNG 13 (2)

 Image

Bên kia quảng trường là những chiếc bàn và ghế bằng liễu gai màu trắng của quán Iruña tràn ra ngoài hiên bên lề đường. Tôi nhìn quanh tìm Brett và Mike nơi mấy chiếc bàn. Họ đang ngồi đó. Brett và Mike và Robert Cohn. Brett đội một chiếc mũ bê-rê Basque. Mike cũng vậy. Robert Cohn thì đầu trần và đeo kính. Brett thấy chúng tôi đi tới và vẫy tay. Mắt nàng nheo lại khi chúng tôi bước tới.

“Xin chào, các chàng trai!” nàng gọi.

Brett trông hạnh phúc. Mike có khả năng trong việc đưa cảm xúc mãnh liệt vào những cái bắt tay. Robert Cohn bắt tay bởi vì chúng tôi đã quay trở lại.

“Mấy người ở đâu đấy?” tôi hỏi.

“Tôi mang họ tới đây đấy,” Cohn trả lời.

“Điêu chứ,” Brett nói. “Chúng tôi đã tới đây sớm hơn nếu như anh không tới đó.”

“Mấy người sẽ chẳng bao giờ đến được đây.”

“Điêu chứ! Mấy anh trông nâu quá. Nhìn Bill này.”

“Các cậu câu được cá không?” Mike hỏi. “Chúng tôi muốn tham gia quá.”

“Cũng không tệ. Bọn này nhớ anh lắm.”

“Tôi cũng muốn tới,” Cohn nói, “nhưng tôi nghĩ tôi phải đi đón họ.”

“Anh đón chúng tôi. Điêu chứ.”

“Câu cá tốt không?” Mike hỏi. “Các cậu câu được nhiều không?”

“Có ngày chúng tôi câu được cả tá. Ở đó có một tay người Anh nữa.”

“Tên Harris,” Bill nói. “Anh biết anh ta không Mike? Anh ta cũng tham gia cuộc chiến đấy.”

“Anh chàng may mắn,” Mike nói. “Quả là một kỷ niệm lớn. Làm sao mà tôi lại ước được quay lại thời đó quá.”

“Đừng ngu thế.”

“Anh có tham chiến không, Mike?” Cohn hỏi.

“Không hề.”

“Anh ta là một tay lính đáng khinh,” Brett nói. “Anh kể họ nghe chuyện con ngựa của anh lồng lên ở Piccadilly [1] đi.”

“Không đâu. Anh kể chuyện đấy bốn lần rồi.”

“Anh chưa từng nói tôi nghe,” Robert Cohn nói.

“Tôi không kể chuyện đấy đâu. Nó hạ thấp nhân phẩm nơi tôi.”

“Thế nói họ nghe về mấy cái huân chương của anh vậy.”

“Không được. Chuyện đấy hạ thấp nhân phẩm lớn nơi anh.”

“Chuyện đấy là sao thế?”

“Brett sẽ kể cho cậu nghe. Cố ấy toàn kể những chuyện nhằm hạ thấp tôi.”

“Tới đi. Kể đi, Brett.”

“Có nên không nhỉ?”

“Thôi để tôi tự kể vậy.”

“Anh giành huân chương gì thế, Mike?”

“Tôi chẳng có cái nào cả.”

“Anh phải có vài cái chứ.”

“Tôi cho là tôi có mấy cái huân chương bình thường thôi. Nhưng tôi chưa bao giờ được nhận nó. Một lần có một bữa tiệc trọng đại và Hoàng tử xứ Wales [2] cũng tham dự, và thiệp mời thông báo người tham dự phải đeo huân chương. Hiển nhiên là tôi làm gì có cái nào, và tôi bước vào tiệm may và ông ta rất ấn tượng với cái thiệp mời trong tay tôi, và tôi nghĩ đấy là một vụ làm ăn tốt, và tôi bảo ông ta: ‘Ông phải tu sửa tôi với một vài cái huân chương.’ Ông ta bảo: ‘Huân chương gì, thưa ngài?’ Thế là tôi bảo: ‘Ôi dào, cái nào mà chẳng được. Ông chỉ cần đưa tôi vài cái thôi.’ Rồi ông ta hỏi: Ngài có cái huân chương nào không, thưa ngài?’ Và tôi trả lời: ‘Làm sao mà tôi biết được?’ Chẳng lẽ ông ta cho rằng tôi dành toàn bộ thời gian của mình để đọc cái công báo quái quỷ đấy à? ‘Hãy đưa tôi một cái còn tốt. Ông cứ tùy chọn.’ Nên ông ta đưa tôi vài cái huân chương, mấy người biết đấy, những chiếc huân chương nhỏ, và trao cho tôi cả cái hộp, và tôi cất vào trong túi rồi quên béng mất. Ôi, rồi thì tôi đi dự tiệc, và đó là đêm mà họ bắn Henry Wilson [3], nên Hoàng tử không tới dự và nhà Vua cũng chẳng tới nốt, và chẳng có ai đeo huân chương cả, và tôi thì cất mấy cái của mình ở trong túi.”

Anh ngừng lại để chúng tôi cười.

“Chỉ thế thôi à?”

“Thế thôi. Có lẽ là tôi kể chưa đúng kiểu.”

“Đúng thế,” Brett nói. “Nhưng cũng chẳng sao.”

Tất cả chúng tôi đều cười.

“À, đúng rồi,” Mike nói. “Tôi biết rồi. Đấy là một bữa tối khốn kiếp ngu ngốc, và tôi không tài nào chịu được, nên tôi bỏ đi. Sau đó cũng trong buổi tối tôi tìm thấy cái hộp trong túi tôi. Cái gì đây? Tôi tự hỏi. Huân chương à? Những chiếc huân chương quân đội đẫm máu? Rồi tôi cắt hết phía sau chúng – các bạn biết đấy, cái phần mà có thể cài vào áo ấy mà – và phát tán đi. Cho mỗi cô một cái. Một kiểu quà lưu niệm ấy. Họ cứ nghĩ tôi là một loại anh hùng nào đó. Thường thì tôi phát huân chương ở hộp đêm. Nhân danh các đồng đội.”

“Kể nốt đi,” Brett bảo.

“Các cậu có thấy buồn cười không?” Mike hỏi. Tất cả chúng tôi đều phá lên cười. “Có đấy. Tôi thề. Bằng bất kỳ giá nào, gã thợ may của tôi viết cho tôi một bức thư và đòi lại mấy cái huân chương. Ông ta còn cử cả người đến chỗ tôi. Ông ta tiếp tục viết trong nhiều tháng. Hình như có ai đó gửi chúng đến để lau chùi. Một thằng cha đáng sợ nào đó trong quân đội. Một mình hắn sở hữu cả cái đống đấy.” Mike ngừng lại. “Gã thợ may bất hạnh,” anh tiếp.

“Anh không có ý đấy đấy chứ,” Bill nói. “Tôi nghĩ đấy là một vinh dự lớn cho ông thợ may.”

“Ông thợ may tốt bụng đáng thương. Chẳng bao giờ tin vào điều đó khi nhìn tôi lúc này,” Mike nói. “Tôi đã từng trả ông ta một trăm bảng mỗi năm để bịt miệng ông ta. Để ông ta không gửi trát đòi tiền tôi. Ông ta phát điên lên khi tôi phá sản. Ngay sau vụ huân chương. Khiến cho mấy lá thư của ông ta toàn giọng điệu cay đắng.”

“Làm thế nào mà anh lại phá sản?” Bill hỏi.

“Hai cách,” Mike trả lời. “Từ từ và bất ngờ.”

“Điều gì gây ra thế?”

“Bạn bè,” Mike trả lời. “Tôi có nhiều bạn lắm. Những người bạn không tốt. Rồi tôi có nhiều những chủ nợ nữa. Có thể là nhiều chủ nợ nhất nước Anh cũng nên.”

“Anh kể họ nghe về phiên tòa ấy,” Brett nói.

“Anh không nhớ,” Mike nói. “Hồi ấy anh hơi say một tí.”

“Say!” Brett ca thán. “Anh mù quáng thì có!”

“Chuyện rắc rối lắm,” Mike nói. “Một ngày tôi gặp lại đối tác cũ. Hắn ta đề nghị mời tôi một ly.”

“Kể cho họ nghe về khóa học tư vấn của anh đi,” Brett gạ.

“Không thể,” Mike nói. “Khóa học tư vấn của anh cũng mù quáng nốt. Nào, tôi thấy đây là một chủ đề âm u quá. Chúng ta có đi xem lũ bò được đưa vào hay là không nào?”

“Ta đi thôi.”

Chúng tôi gọi người phục vụ, trả tiền, và bắt đầu đi qua trung tâm. Ban đầu tôi đi cùng Brett, nhưng Robert Cohn vượt lên và đi bên cạnh nàng. Ba chúng tôi cùng bước đi, qua Ayuntamiento với tấm biểu ngữ treo trên ban công, đi qua chợ và qua con đường dốc dẫn tới cây cầu bắt qua sông Arga [4]. Rất nhiều người cũng đang trên đường tới xem đàn bò, và những chiếc xe ngựa đang chạy xuống từ ngọn đồi và đi qua cầu, người lái xe, lũ ngựa, và tiếng vụt roi nổi bật lên phía trên đoàn người đang bước trên đường. Qua cầu chúng tôi rẽ sang một con phố dẫn tới bãi quây gia súc. Chúng tôi đi qua một cửa hàng rượu với tấm biển treo nơi cửa sổ: Rượu Ngon 30 Xentim Một Lít.

“Đó là nơi ta tới khi tiền hết,” Brett nói.

Người phụ nữ đứng bên cửa nhìn chúng tôi khi chúng tôi đi qua. Cô ta gọi một ai đó ở trong nhà và ba cô con gái ló ra từ khung cửa sổ mà nhìn. Bọn họ đang nhìn Brett.

Ở cổng bãi quây có hai người đàn ông soát vé của những người vào xem. Chúng tôi bước qua cổng. Bên trong có nhiều cây và một ngôi nhà thấp bằng đá. Ở phía cuối là bức tường đá của bãi quây, với những lỗ hở trên mặt đá như là những lỗ châu mai chạy dọc theo bề mặt của mỗi chuồng quây. Có một chiếc thang dẫn lên trên nóc tường, và người ta trèo lên thang và tản ra để đứng trên bờ tường chia đôi bãi quây. Khi chúng tôi leo lên thang, đi dọc theo đám cỏ bên dưới hàng cây, chúng tôi lướt qua một cái chuồng lớn sơn màu xám đang nhốt mấy con bò. Trong mỗi thùng hàng là một con bò. Chúng được chở tới đây từ trại nuôi ở Castile [5] bằng tàu hỏa, và được đưa từ nhà ga lên đây bằng xe tải mà vẫn giữ nguyên đai nguyên kiện. Mỗi một cái chuồng đều có tên và thương hiệu của trại nuôi bò giống trên đó.

Chúng tôi trèo lên và tìm thấy chỗ trống trên bức tường nhìn được ngay xuống bãi quây. Đá của bức tường đã bạc trắng, rơm vương vãi đầy mặt đất và những thùng gỗ cho ăn và máng nước đặt bên tường.

“Nhìn đằng kia kìa,” tôi chỉ.

Thung lũng của thị trấn hiện lên phía sau con sông. Dọc những thành lũy và những bức tường cũ kỹ đứng đầy người. Ba hàng công sự được tạo bởi ba hàng người đen kịt. Bên trên bức tường là những cái đầu nhô ra từ cửa sổ của các ngôi nhà. Ở tít đầu kia của thung lũng những thằng nhóc đang cố trèo lên một cành cây.

“Họ hẳn phải nghĩ có chuyện gì đó sắp sửa diễn ra,” Brett choáng ngợp.

“Họ muốn xem lũ bò ấy mà.”

Mike và Bill đứng trên bức tường khác bắc ngang cái hố của vòng quây. Họ vẫy tay với chúng tôi. Những người tới muộn đứng đằng sau chúng tôi, xô đẩy chúng tôi khi những người khác xô vào họ.

“Sao họ chưa bắt đầu đi?” Robert Cohn hỏi.

Một con la bị lôi tới trước một trong những cái chuồng và kéo nó tới cánh cổng nơi bức tường của vòng quây. Người đàn ông đẩy mạnh cánh cổng và nâng nó lên bằng một cái xà beng. Những người đứng trên bờ tường đã sẵn sàng kéo cánh cổng của bãi quây lên và tiếp theo là cái cửa chuồng. Cuối vòng quây một cánh cổng khác được mở ra và hai con trâu đực non tiến vào, lúc lắc cái đầu và bắt đầu chạy nước kiệu, cánh sườn mảnh khảnh của chúng phập phồng. Chúng đứng cùng nhau ở cuối vòng quây, đầu chúng hướng về cánh cổng mà đàn bò sẽ ùa vào.

“Chúng không có vẻ gì vui tươi cả,” Brett nói.

Người đàn ông trên nóc bức tường lùi lại và nâng chiếc cửa của vòng quây lên. Rồi họ nâng cái cửa chuồng lên.

Tôi tì vào tường và cố gắng nhìn vào trong cái chuồng ấy. Bên trong tối om. Có ai đó đánh nhẹ vào cái chuồng bằng một cái que sắt. Bên trong có thứ gì đó như muốn nổ tung. Con bò tót, cạo cạo vào chuồng gỗ từ bên này sang bên kia bằng cặp sừng của nó, tạo ra những tiếng động lớn. Rồi tôi thấy một cái mõm lớn và bóng tối của cặp sừng, và rồi, với một tiếng lóc cóc cà vào gỗ trong một cái hộp rỗng, con bò đâm vào và tiến ra vòng quây, trượt tới với hai chân trước trên đống rơm khi nó dừng lại, đầu nó ngẩng lên, những đường gân nơi cổ căng lên, các thớ cơ trên cơ thể rung động khi nó ngước nhìn đám đông trên bức tường đá. Hai con la lùi lại sát bờ tường, đầu chúng rũ xuống, con mắt nhìn đăm đăm vào kẻ mới xuất hiện.

Con bò nhìn thấy chúng và lao vào. Một người đàn ông hét lên từ phía sau một chiếc thùng và đập mũ của mình vào tấm ván, và con bò, trước khi chạm tới lũ trâu đực non, quay lại, chuẩn bị tư thế và lao vào nơi người đàn ông vừa đứng, cố gắng tiếp cận ông ta từ đằng sau tấm ván với một cú đâm nhanh và mạnh mẽ bằng sừng bên phải.

“Trời ơi, nó không đẹp ư?” Brett thốt lên. Chúng tôi đang nhìn thẳng xuống nó.

“Nhìn như thể nó biết cách sử dụng cặp sừng của mình vậy,” tôi nói. “Nó sử dụng sừng trái và sừng phải như một tay đấm bốc.”

“Thật chứ?”

“Em cứ nhìn mà xem.”

“Nhanh quá.”

“Đợi đã. Sẽ có một con nữa trong vài phút tới.”

Họ đã mang một cái chuồng nữa tới lối vào. Ở góc xa một người đàn ông, từ đằng sau một chỗ ẩn nấp bằng ván, thu hút con bò, và trong khi con bò quay mặt đi cửa chuồng lại được nâng lên và con bò thứ hai tiến vào vòng quây.

Con này xông thẳng về lũ trâu đực non và hai người đàn ông chạy đằng sau tấm ván vừa la hét, để làm nó quay lại. Nó không hề đổi hướng và những người đàn ông hét lên: “Hah! Hah! Toro! [6]” và vẫy cánh tay họ; và hai con trâu đực quay đầu theo tiếng hô, và ngay lúc ấy con bò đâm thẳng vào một con trâu.

“Đừng nhìn,” tôi bảo Brett. Nàng vẫn nhìn, hoàn toàn bị mê hoặc.

“Tốt thôi,” tôi nói. “Nếu em không sợ.”

“Em thấy rồi,” nàng nói. “Em thấy nó chuyển từ sừng bên trái sang sừng phải.”

“Khá đấy!”

Con trâu non gục xuống, cổ nó toác ra, đầu nó vặn vẹo, nó nằm nguyên như khi ngã xuống. Bỗng nhiên con bò buông ra và chuyển sang cao trâu còn lại đang đứng ở tít đằng xa, đầu nó lắc lư, chứng kiến tất cả những gì vừa diễn ra. Con trâu luống cuống bỏ chạy và con bò bắt được nó, húc nhẹ vào sườn, và rồi quay đi và nhìn lên đám đông đang đứng trên tường, các múi cơ trên người nó căng lên. Con trâu non tiến tới nó và làm cử chỉ như muốn dụi mũi vào nhau và lần này con bò đâm một cách hời hợt. Lần tiếp theo con bò lại cà mũi vào con trâu non và rồi cả hai chạy chậm về phía con bò còn lại.

Khi con bò tiếp theo tiến vào, cả ba, hai con bò và một con trâu, đứng bên nhau, đầu chúng kề bên nhau, sừng chúng hướng về kẻ mới đến. Trong vài phút con trâu làm quen với con bò mới, kiềm chế nó, và đưa nó vào bầy. Khi hai con bò tót cuối cùng được đưa vào thì cả bọn đã thành một hội kết đoàn.

Câu trâu non bị đâm khi nãy đã đứng dậy được và tựa vào bờ tường đá. Không có con bò nào tiến tới gần nó, và nó cũng chẳng cố gắng gia nhập bầy.

Chúng tôi trèo xuống khỏi bờ tường cùng đám đông, và nhìn lũ bò lần cuối qua những lỗ châu mai của bức tường vòng quây. Giờ thì chúng đang im lặng, đầu cúi xuống. Chúng tôi gọi một chiếc xe ngựa ở bên ngoài và quay lại quán café. Mike và Bill xuất hiện nửa giờ sau đó. Họ đã nghỉ lại nhiều chỗ trên đường và làm nhiều ly.

Chúng tôi ngồi trong quán café.

“Đúng là một vụ khác thường,” Brett nhận xét.

“Những trận cuối có hay như trận đầu không?” Robert Cohn hỏi. “Chúng có vẻ yên nhanh quá.”

“Chúng biết nhau cả rồi,” tôi nói. “Chúng chỉ nguy hiểm khi ở riêng thôi, hoặc là hai hay ba con ở cùng một chỗ.”

“Ý cậu là sao, nguy hiểm á?” Bill hỏi. “Với tôi thì con nào cũng nguy cả.”

“Chúng chỉ muốn giết người khi ở một mình. Đương nhiên, nếu như cậu bước vào và cậu có thể tách một con ra khỏi bầy, thì nó sẽ trở nên nguy hiểm.”

“Cầu kỳ quá,” Bill nói. “Anh đừng có bao giờ tách tôi ra khỏi bầy đấy, Mike nhé.”

“Tôi nói là,” Mike nói, “chúng đều tốt cả, đúng không? Các vị có thấy cặp sừng không?”

“Em không,” Brett trả lời. “Em chẳng biết là nó ra sao cả.”

“Em có thấy con bò húc vào con trâu không?” Mike hỏi. “Thật là phi thường.”

“Làm một con trâu non là xong đời,” Robert Cohn cảm thán.

“Cậu đừng nghĩ thế chứ?” Mike nói. “Tôi thì cứ nghĩ cậu muốn làm một con trâu non đấy, Robert ạ.”

“Ý anh là sao, Mike?”

“Chúng có cuộc đời yên ả quá. Chúng chẳng bao giờ nói gì cả và chúng cứ treo ở trạng thái đấy mãi thôi.”

Chúng tôi bối rối. Bill cười phá lên. Robert Cohn thì giận dữ. Còn Mike thì cứ tiếp tục.

“Tôi nên nghĩ là cậu thích thế. Cậu sẽ không bao giờ phải nói gì. Thôi nào, Robert. Cậu nói gì đi. Đừng có ngồi đó không thôi.”

“Tôi đã nói vài điều, Mike ạ. Anh không nhớ à? Về những con trâu.”

“Ôi, nói gì hơn thế ấy. Nói cái gì hài hước ấy. Cậu không thấy là chúng ta đang vui vẻ à?”

“Thôi nào, Michael. Anh say rồi đấy,” Brett can thiệp.

“Anh không say. Anh nghiêm túc đấy. Mọi người nói xem có phải là Robert Cohn theo đuôi Brett suốt ngày như một con trâu đực non không?”

“Im đi, Michael. Cố gắng và tỏ ra có tính xây dựng đi xem nào.”

“Xây dựng cái mẹ gì. Ai mà cần nuôi ngoài mấy con bò chứ? Bọn bò kia không đáng yêu à? Cậu thích chúng không, Bill? Sao không nói gì thế, Robert? Đừng có ngồi đó và nhìn như thể đây là một đám tang đẫm máu. Brett ngủ với cậu thì đã làm sao? Cô ta ngủ với hàng tá người tốt đẹp hơn cậu nhiều.”

“Im ngay,” Cohn nói. Gã đứng dậy. “Câm đi, Mike.”

“Ôi, đừng có mà đứng dậy và hành động như thể cậu sẽ tẩn tôi một trận. Với tôi thì chẳng nước non gì đâu. Nói tôi nghe coi, Robert. Sao cậu cứ lon ton chạy theo Brett như con trâu non tội nghiệp thế? Cậu không biết là cậu không được mong đợi à? Tôi thì tôi biết khi nào tôi không được mong chứ. Sao cậu lại không biết điều thế? Cậu xuống San Sebastian nơi mà không ai mong cậu cả, rồi theo đuôi Brett như một con trâu non tàn bạo ấy. Cậu tự nghĩ xem như thế có được không?”

“Im đi. Anh say rồi.”

“Có thể là tôi say. Thế làm sao cậu lại không say? Sao cậu không bao giờ say thế, Robert? Cậu biết là cậu không vui vẻ gì ở San Sebastian bởi vì không một ai trong đám bạn của chúng tôi mời cậu tiệc tùng cả. Cậu không trách họ được. Đúng không? Tôi đã xin xỏ họ đấy chứ. Nhưng họ lại không thèm mời. Cậu không trách được. Đúng không. Nào, trả lời tôi. Cậu có trách họ không?”

“Cút đi, Mike.”

“Tôi không trách họ được. Cậu có trách được không? Sao cậu cứ theo Brett mãi thế? Cậu không biết cư xử à? Cậu nghĩ là nó khiến tôi cảm thấy thế nào hả?”

“Anh thật cao quý quá khi nói về lối cư xử,” Brett nói. “Anh xử sự đáng yêu lắm.”

“Đi nào, Robert,” Bill nói.

“Cậu đi theo cô ấy làm gì?”

Bill đứng lên và giữ người Cohn.

“Đừng đi,” Mike nói. “Robert Cohn sẽ đi mua rượu.”

Bill đi khỏi cùng Cohn. Mặt Cohn tái lại. Mike vẫn tiếp tục lảm nhảm. Tôi ngồi lại và nghe một lúc. Brett nhìn anh chán ghét.

“Em bảo anh nhé, Michael, anh đúng là không thể nào chịu đựng nổi,” nàng ngừng lại. “Em không bảo là anh ta đúng, anh cũng biết thế.” Nàng quay sang tôi.

Cảm xúc thoát ra khỏi giọng nói của Mike. Lúc này, chúng tôi chỉ là những người bạn.

“Anh không say như thế đâu,” anh giải thích.

“Em cũng biết thế,” Brett nói.

“Chúng mình chẳng ai say cả,” tôi nói.

“Tôi không nói những điều mà tôi không muốn.”

“Nhưng anh làm thế thì tệ quá,” Brett cười.

“Nhưng thằng đó khó chịu quá. Hắn tới San Sebastian mà chẳng ai mong hắn tới cả. Hắn cứ bám lấy Brett và chỉ nhìn cô ấy. Làm tôi phát ốm.”

“Anh ta cư xử tệ lắm,” Brett nói.

“Câu này em nói đấy nhé. Brett từng có chuyện này chuyện kia với người khác trước đây. Cô ấy kể tôi nghe hết. Cô ấy cho tôi đọc thư của tay Cohn này. Tôi cố đọc mà không đọc nổi.”

“Anh quả là quý phái.”

“Không, nghe này, Jake. Brett có đi với giai. Nhưng chẳng thằng nào là Do Thái cả, và họ không có quẩn chân sau đó.”

“Mấy tay tốt bụng chết tiệt,” Brett nói. “Nói về mấy chuyện này mãi thật tởm quá. Michael và em thấu hiểu nhau lắm.”

“Cô ấy đưa thư của Robert Cohn cho tôi. Tôi không buồn đọc.”

“Anh có bao giờ đọc thư đâu, anh yêu. Anh có thèm đọc thư em viết đâu.”

“Anh không đọc được thư,” Mike nói. “Hài nhỉ?”

“Anh chẳng đọc được cái gì cả.”

“Không. Thế thì em sai rồi. Anh có đọc đấy chứ. Anh đọc lúc ở nhà ấy.”

“Rồi thì anh sẽ viết,” Brett nói. “Thôi đi, Michael. Hăng hái lên. Anh phải bỏ qua chuyện này đi. Anh ta đang ở đây. Anh đừng có mà làm hỏng lễ hội đấy.”

“Ờ, thế thì hắn cũng phải cư xử cho đúng mực mới được chứ.”

“Anh ta sẽ đúng mực. Em sẽ bảo anh ta.”

“Cậu nói với hắn nữa, Jake. Bảo là hoặc là hắn cư xử cho phải phép vào hoặc là hắn cứ việc biến đi.”

“Ừ,” tôi nói, “để tôi nói với hắn là ổn nhất.”

“Thấy chưa, Brett. Em kể cho Jake nghe xem Robert gọi em là gì. Cái mà hoàn hảo ấy.”

“Ôi, không. Em không thể.”

“Thôi nào. Bọn mình đều là bạn bè cả mà. Mình có phải là bạn không, Jake?”

“Em không nói được đâu. Lố lắm.”

“Thế thì để anh nói.”

“Đừng nói, Michael. Đừng có quá đáng.”

“Hắn gọi cô ấy là Circe [7],” Mike nói. “Hắn buộc tội cô ấy biến đàn ông trở thành lũ lợn. Khá chuẩn. Tôi ước gì tôi cũng có tài văn chương thiên phú.”

“Anh ta sẽ nổi tiếng, anh biết đấy,” Brett nói. “Anh ta viết thư hay lắm.”

“Anh biết chứ,” tôi nói. “Hắn viết thư cho anh từ San Sebastian.”

“Thế chẳng là gì cả,” Brett nói. “Anh ta viết thư hài hước lắm.”

“Cô ta bắt tôi viết đấy. Cô ta dự đoán sẽ bị ốm.”

“Thì đúng thế còn gì.”

“Thôi nào,” tôi nói, “mình phải ăn cái đã.”

“Tôi nên đối diện Cohn thế nào?” Mike hỏi.

“Cứ làm như chẳng có chuyện gì cả.”

“Với tôi thì chẳng sao,” Mike nói. “Tôi không xấu hổ đâu.”

“Nếu hắn nói gì, cứ bảo là vì anh say.”

“Cũng đúng. Và điều thú vị là tôi nghĩ rằng tôi cũng say thật.”

“Đi thôi,” Brett nói. “Mấy thứ độc hại này đã thanh toán chưa ấy nhỉ? Em phải đi tắm trước bữa tối đã.”

Chúng tôi đi qua quảng trường. Trời tối và xung quanh quảng trường đã sáng ánh đèn từ những quán cafés dưới mái vòm. Chúng tôi đi trên những con đường rải sỏi bên dưới hàng cây dẫn về khách sạn.

Họ lên lầu và tôi dừng lại để nói chuyện với Montoya.

“Ồ, ông có thích lũ bò không?” ông hỏi.

“Cũng tốt. Mấy con đó được lắm.”

“Chúng cũng tàm tạm” — Montoya lắc đầu – “nhưng không phải là quá hay.”

“Sao ông lại không thích chúng?”

“Tôi không biết. Chúng chỉ khiến tôi có cảm giác là chúng không được hay lắm.”

“Tôi hiểu ý ông.”

“Chúng cũng ổn.”

“Vâng. Chúng ổn.”

“Các bạn ông thích chúng không?”

“Cũng được.”

“Tốt rồi,” Montoya nói.

Tôi bước lên lầu. Bill đang ở trong phòng, đứng ở ban công nhìn xuống quảng trường. Tôi bước tới cạnh anh.

“Cohn đâu?”

“Ở phòng hắn trên lầu.”

“Hắn thế nào rồi?”

“Tệ lắm. Mike khiếp quá. Anh ta thật tệ khi say.”

“Anh ấy không say thế đâu.”

“Anh ta không say cái đếch. Tôi biết chúng tôi uống bao nhiêu trước khi tới quán café chứ.”

“Sau cùng anh ta cũng say.”

“Ừ. Anh ta tệ quá. Tôi không ưa Cohn, Chúa biết mà, và tôi nghĩ hắn thật ngớ ngẩn khi xuống San Sebastian, nhưng không có ai được quyền nói năng như Mike cả.”

“Cậu thấy lũ bò ra sao?”

“Tuyệt. Cái cách mà họ đưa chúng ra hay lắm.”

“Ngày mai là lũ bò Miura [8].”

“Khi nào thì fiesta bắt đầu?”

“Ngày kế tiếp.”

“Mình phải giữ cho Mike không được say quá. Chứ mấy cái chuyện này chán quá.”

“Mình nên tắm rửa trước khi ăn tối.”

“Ừ. Sẽ là một bữa ăn tuyệt vời.”

“Không phải thế sao?”

Là vấn đề thực tế, bữa tối là một bữa rất dễ chịu. Brett diện chiếc váy đen, không tay cho buổi tối. Nàng thật đẹp. Mike hành động như thể chưa có chuyện gì xảy ra. Tôi phải lên lầu và gọi Robert Cohn xuống. Gã dè dặt và khách sáo, và mặt gã vẫn còn căng thẳng và xám ngoét, nhưng cuối cùng thì gã cũng vui vẻ trở lại. Gã không thể ngừng nhìn Brett. Điều đó dường như làm gã hạnh phúc. Như thể gã cảm thấy hài lòng khi thấy được dáng vẻ yêu kiều nơi nàng, và biết rằng gã đã từng cùng với nàng và tất cả mọi người đều biết chuyện. Họ không thể cướp đi điều đó khỏi gã. Bill rất hài hước. Michael cũng vậy. Họ đối xử tử tế với nhau.

Nó giống như một bữa tối thời chiến tranh mà tôi còn nhớ được. Có nhiều rượu, và cả cái không khí phớt lờ, với linh cảm về những điều sẽ xảy ra mà ta không tài nào ngăn lại. Dưới sức mạnh của rượu tôi mất đi cảm giác chán ghét và trở nên hạnh phúc. Cứ như thể tất cả bọn họ đều là những kẻ dễ thương.


Chú thích:

[1] Piccadilly: một con phốở London, nước Anh; trung tâm cũ với các cửa hàng thời trang, clb, và khách sạn

[2] Hoàng tử xứ Wales (1894–1972); con trai của George V; Công tước xứ Windsor; sau này là vua của nước Anh, biết đến với tên gọi Edward VIII; thoái vị

[3] Sir Henry Hughes Wilson, (5 /5/1864 – 22/6/1922) là một thống chế quân sự Scotland và nhà chính trị theo chủ nghĩa Hợp nhất  giữa Anh – Bắc Ireland.

Ông là một trong những vị sĩ quan hàng đầu của Quận đội Hoàng gia Anh trong Thế chiến I và đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng quan hệ giữa quân đội Anh và quân đội Pháp trong suốt thời kỳ phục binh. Sau khi trở thành thành viên Quốc hội Anh, Wilson bị ám sát bởi hai tay súng IRA vào năm 1922 khi trên đường trở về nhà từ một buổi tưởng niệm chiến tranh ở trạm Liverpool Street.

[4] Arga là con sông chảy qua vùng Navarre, Tây Ban Nha và là một trong những nhánh phụ của sông Ebro. Nằm ở đông bắc TBN, con sông này dài 145 km. Thượng nguồn của con sông nằm ở phía bắc của làng Esteríbar, gần với biên giới nước Pháp, và phần cuối đổ vào sông Aragón gần Funes. Con sông bị ngăn đập ở hồ chứa Eugui gần Esteríbar; nhằm phục vụ cho khu đô thị ở Pamplona, là thành phố lớn nhất bên sông Arga.

[5] Castile: khu vực và quốc gia trước đây ở miền bắc và trung Tây Ban Nha, dành tự trị trong mười thế kỷ và sáp nhập cùng Leon, và sau này với Aragon (thế kỷ mười lăm), và trở thành trung tâm của nền chế độ quân chủ Tây Ban Nha

[6] “Hah! Hah! Toro!”: (tiếng TBN) “Này! Này! Con bò tót kia!”

[7] Circe: nhân vật trong tác phẩm Odyssey của Homer, một nữ phù thủy có thể biến đàn ông thành lợn.

[8] bò Miura: loại bò tót được gây giống từ Trại gia súc Miura Cattle Ranch (TBN: Ganadería Miura), thuộc tỉnh Seville, TBN. Trại gia súc này ban đầu thuộc về Don Eduardo Miura Fernández, và được biết đến vì đã trạo ra giống bò tót to lớn và thiện chiến. Con bò Miura đầu tiên xuất hiện trong trận đấu là vào ngày 30/4/1849 ở Madrid.

//

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: