MẶT TRỜI VẪN MỌC – Chương 6

CHƯƠNG 6

Image

Vào năm giờ tôi có mặt tại Khách sạn Crillon đợi Brett. Nàng không ở đó, tôi ngồi lại và viết vài dòng. Thư không được hay lắm nhưng tôi hy vọng chất lượng giấy của Khách sạn Crillon sẽ gỡ gạc lại đôi chút. Brett không quay về, nên khoảng sáu giờ kém mười lăm tôi xuống quầy bar và làm một ly Jack Rose[1] với người pha rượu tên George. Brett không có ở đấy, tôi cố gắng tìm nàng trên lầu trên đường ra, và gọi taxi tới quán Café Select. Dọc sông Seine tôi nhìn thấy một dãy xà lan trống không bị kéo lại dưới dòng, rồi nhô lên cao, người lái xà lan lướt qua khi họ tiến tới chỗ cây cầu. Con sông thật đẹp. Bao giờ cũng thật dễ chịu khi đi qua những cây cầu ở Paris.

Chiếc taxi đi vòng quanh bức tượng của người phát minh ra hệ thống tín hiệu, và rẽ sang Boulevard Raspail[2], rồi tôi ngồi lại để cho phần còn lại của chuyến đi tới hồi kết thúc. Boulevard Raspail luôn mang lại cảm giác buồn nản mỗi lúc đi qua. Nó giống như một đoạn nhất định trên P.L.M giữa Fontainebleau[3] và Montereau[4] mà luôn làm tôi cảm thấy chán ốm và như chết và ngu si đần độn cho tới hồi kết thúc. Tôi đoán đó là một sự liên kết của những ý tưởng mà tạo nên những điểm chết trong một cuộc hành trình. Còn có những con phố khác ở Paris cũng xấu xí như Boulevard Raspail. Đó là những con phố mà tôi chẳng bận tâm nếu rảo bước qua. Nhưng tôi không thể chịu nổi nếu đi xe qua đó. Có lẽ tôi từng đọc qua một lần về nó. Đó là cái cách mà Robert Cohn hiểu về Paris. Tôi tự hỏi nơi Cohn rằng gã thiếu đi mất cái năng lực thưởng thức Paris ấy từ đâu. Có thể là từ Mencken[5]. Mencken ghét Paris, tôi tin chắc. Rất nhiều gã trai trẻ nhiễm cái thói ưa hay không ưa một thứ gì đó từ Mencken.

Xe dừng lại trước cửa Rotonde[6]. Dù cho anh có yêu cầu bác tài đưa tới quán cafe nào thuộc Montparnasse từ phía bờ bên phải, họ cứ luôn thả anh xuống trước cửa Rotonde. Sau này mười năm thì có thể sẽ là quán Dome. Dù sao thì cũng gần thôi. Tôi bước qua mấy cái bàn buồn thiu của quán Rotonde để tới Select. Chỉ có vài người ngồi bên quầy bar, ở bên ngoài, ngồi một mình, là Harvey Stone. Trước mặt anh là một chồng đĩa nhỏ, râu ria thì xồm xoàm.

“Ngồi đi,” Harvey nói, “tôi đang tìm cậu đây.”

“Sao thế?”

“Không có gì. Chỉ muốn gặp cậu thôi.”

“Anh có đi xem cuộc đua không?”

“Không. Không bắt đầu trước Chủ nhật đâu.”

“Anh có nghe được tin tức gì từ trong nước không?”

“Không. Chẳng có gì cả.”

“Có chuyện gì thế?”

“Tôi không biết. Tôi chán lắm rồi. Tôi thực sự xong với bọn họ rồi.”

Anh chúi người về trước và nhìn vào mắt tôi.

“Có muốn biết điều gì không, Jake?”

“Có.”

“Tôi chưa ăn gì năm ngày nay rồi.”

Tôi suy luận nhanh trong đầu. Ba ngày trước Harvey thắng của tôi hai trăm franc khi chơi trò xi xúc sắc ở New York Bar.

“Có chuyện gì thế?”

“Không có tiền. Tiền không về,” anh ngừng lại. “Tôi đã bảo cậu là lạ lắm mà, Jake. Những lúc thế này tôi chỉ muốn được một mình thôi. Tôi muốn ở trong phòng. Như lũ mèo ấy cậu ạ.”

Tôi sờ tay vào ví.

“Một trăm franc có giúp gì được anh không Harvey?”

“Có chứ.”

“Đi nào. Kiếm cái gì đó ăn thôi.”

“Không cần vội. Mình uống trước đã.”

“Nên ăn thì hơn.”

“Không. Những khi như thế này tôi không quan tâm tới chuyện ăn lắm.”

Chúng tôi gọi đồ uống. Harvey đặt cái đĩa[7] của tôi vào đống của anh.

“Anh có biết Mencken không Harvey?”

“Có. Sao thế?”

“Ông ta thế nào?”

“Cũng được. Gã đó nói mấy thứ buồn cười lắm. Lần trước ăn tối cùng nhau, chúng tôi bàn về Hoffenheimer đấy. ‘Vấn đề là,’ ông ta bảo, ‘ông ta là một con cá chỉ vàng bịt bít tất.’ Cũng không tệ lắm đâu.”

“Quả là không tệ.”

“Nhưng giờ thì ông ta thôi rồi,” Harvey tiếp tục. “Ông ta viết về tất cả những gì ông ta biết, và giờ thì ông ta đang bận tâm về những điều mà ông ta chưa biết.”

“Chắc là ông ta cũng ổn,” tôi nói. “Nhưng tôi không nuốt nổi mấy thứ ông ta viết.”

“Ối dào, giờ thì còn ai đọc ông ta nữa,” Harvey nói, “trừ mấy gã từng đọc Alexander Hamilton Institute[8].”

“Ừ,” tôi nói. “Thứ đấy cũng hay mà.”

“Thì thế,” Harvey nói. Rồi chúng tôi ngồi và suy nghĩ mông lung mất một lúc.

“Mình gọi thêm rượu port[9] nhé?”

“Được đó,” Harvey đồng ý.

“Cohn kìa,” tôi nói. Robert Cohn đang bước qua đường.

“Cái thằng khờ ấy,” Harvey bảo. Cohn bước đến bên bàn chúng tôi.

“Xin chào mấy anh lười,” gã mở miệng chào.

“Chào Robert,” Harvey nói. “Tôi vừa bảo với bạn Jake đây rằng cậu là một thằng khờ.”

“Ý anh là gì?”

“Cậu trả lời ngay nhé. Không được nghĩ đâu đấy. Cậu sẽ làm gì nếu cậu có thể làm bất kỳ điều gì cậu muốn?”

Cohn bắt đầu suy nghĩ.

“Đừng nghĩ. Cậu phải trả lời ngay.”

“Tôi không biết,” Cohn nói. “Mấy thứ này là sao?”

“Ý tôi là cậu sẽ làm gì. Cái gì xuất hiện trong đầu cậu trước tiên ấy. Dù nó có ngớ ngẩn thế nào cũng được.”

“Làm sao tôi biết được,” Cohn nói. “Tôi nghĩ là tôi sẽ chơi lại bóng đá với những gì mà tôi biết về cách kiểm soát bản thân, ngay lúc này.”

“Tôi đánh giá sai cậu rồi,” Harvey nói. “Cậu chẳng khờ tẹo nào cả. Cậu chỉ là một ca kém phát triển thôi.”

“Anh hài hước quá đi mất, Harvey ạ,” Cohn nói. “Ngày nào đó sẽ có người đập vào mặt anh đấy.”

Harvey Stone cười phá lên. “Cậu nghĩ thế à. Không đâu bạn ơi. Bởi vì nó chẳng làm gì được với tôi cả. Tôi có phải là chiến binh đâu.”

“Sẽ có khác biệt đấy nếu có ai làm như thế.”

“Không đâu, sẽ không như vậy. Cậu sai lầm ở chỗ ấy đấy. Bởi vì cậu thiếu thông minh quá.”

“Anh thôi ngay.”

“Được thôi,” Harvey nói. “Cũng chẳng sao đối với tôi. Cậu chẳng là gì đối với tôi cả.”

“Thôi nào, Harvey,” tôi nói. “Làm một ly porto nữa đi.”

“Thôi,” anh trả lời. “Tôi lên phố ăn cái gì đây. Gặp lại sau nhé, Jake.”

Anh đi khỏi và bước ra phố. Tôi nhìn anh sang đường về phía mấy cái taxi đang đậu, bóng hình anh nhỏ bé, nặng nề, chậm chạp giữa những làn xe.

“Anh ta luốn khiến tôi bực cả mình,” Cohn nói. “Không tài nào chịu nổi hắn.”

“Tôi thích anh ấy,” tôi nói. “Anh ấy thú vị chứ. Cậu không muốn cáu với anh ấy đâu.”

“Tôi biết chứ,” Cohn nói. “Nhưng mà anh tôi cứ làm tôi điên lên.”

“Chiều nay cậu ngồi viết à?”

“Không. Tôi không cầm bút nổi. Khó hơn nhiều so với cuốn đầu tiên. Tôi gặp khó quá.”

Loại ý tưởng tự phụ lành mạnh mà gã mang vào người từ khi trở về từ Mỹ đầu mùa xuân này đã ra đi. Rồi gã thành ra tin chắc vào công việc của mình, chỉ với những khắc khoải cá nhân về chuyến thám hiểm kia. Giờ thì chắc chắn cũng ra đi nốt. Tôi có cảm giác như thể tôi chưa chỉ bảo tận tình cho cái gã Robert Cohn này. Lý do là bởi gã đâm đầu vào mà yêu Brett, tôi chưa bao giờ nghe thấy một dấu hiệu nào từ gã, tách riêng gã ra khỏi những kẻ khác. Gã cũng tử tế khi xuất hiện ở sân tennis, gã có một thân hình khỏe khoắn, và gã luôn giữ sao cho nó vừa đúng chuẩn; gã xử lý đống bài cũng tốt, và gã có cả cái mớ phẩm chất khôi hài của một anh sinh viên. Nếu ở lẫn trong đám đông chẳng có lời nào gã nói lại tỏ ra ấn tượng. Gã luôn mặc cái thứ từng được gọi là áo polo[10] ở trường học, và có thể đến giờ người ta vẫn còn gọi nó như thế, nhưng gã không phải là một tay chuyên nghiệp trẻ tuổi. Tôi không nghĩ là gã quan tâm nhiều lắm về quần áo của mình. Vẻ bề ngoài của gã được hình thành bởi môi trường Princeton. Phần bên trong con người gã được nặn khuôn bởi hai người đàn bà đã tôi luyện nên gã. Gã có cái vẻ vui tươi thân thiện, trẻ con mà không bao giờ biến mất khỏi gã, và tôi có thể đã không tiếp cận được nó. Gã thích giành chiến thắng trên sân tennis. Gã muốn thắng được nhiều như Lenglen[11]. Mặt khác, gã cũng không đến nỗi tức giận nếu bị đánh bại. Khi gã yêu Brett, trò tennis đối với gã chỉ còn là chuyện cỏn con. Người ta có thể đánh bại gã dù chưa từng có cơ hội trước đó. Gã khá dễ chịu với vấn đề này.

Dù sao, chúng tôi đang ngồi trong sân hiên của quán Café Select, và Harvey Stone vừa mới bước sang đường.

“Ta qua quán Lilas[12] thôi,” tôi rủ.

“Tôi có hẹn rồi.”

“Mấy giờ?”

“Frances sẽ đến đây lúc bảy giờ mười lăm.”

“Cô ấy kia rồi.”

Frances Clyne tới chỗ chúng tôi từ bên kia đường. Một cô nàng cao ráo với những bước đi vô cùng duyên dáng. Cô vẫy tay và mỉm cười. Chúng tôi nhìn cô ta sang đường.

“Xin chào,” cô ta nói. “Thật vui vì gặp anh ở đây, Jake, Tôi đang mong anh đây. ”

“Chào Frances,” Cohn nói. Gã mỉm cười.

“Ồ, chào, Robert. Anh cũng ở đây à?” Cô ta tiếp tục liến thoắng. “Tôi vừa trải qua cơn tổn thương nghiêm trọng. Anh chàng này” – quay đầu về phía Cohn – “không thèm về nhà ăn trưa.”

“Anh không định thế.”

“Ồ, em biết chứ. Nhưng anh chẳng báo gì với chị bếp cả. Rồi em cũng có hẹn, và Paula không có ở văn phòng. Em tới Ritz[13] đợi cô ấy, và cô ta chẳng thèm đến, và dĩ nhiên là em không mang đủ tiền để ăn trưa ở Ritz —”

“Thế em làm gì?”

“Ôi, dĩ nhiên là, em đi.” Cô ta nói với lối vui vẻ giả tạo. “Em luôn đúng hẹn. Thế mà ngày nay thì chẳng ai như thế nữa. Đáng lý ra em phải biết hơn. À, anh thế nào hả Jake?”

“Tôi khỏe.”

“Cái cô đi cùng anh được lắm, thế mà anh lại đi về với cô Brett kia.”

“Em không thích cô ấy à?” Cohn hỏi.

“Em thấy cô ta hấp dẫn lắm. Anh bảo có đúng không?”

Cohn không nói gì.

“Jake này, tôi muốn nói chuyện với anh. Anh qua Dome với tôi một lát nhé? Anh ở lại đây nhé, Robert? Đi nào, Jake.”

Chúng tôi qua đại lộ Boulevard Montparnasse và ngồi xuống một chiếc bàn. Một cậu bé đi tới với tờ Thời báo Paris, tôi mua lấy một tờ và mở ra.

“Có chuyện gì thế, Frances?”

“Ồ, không có gì đâu,” cô ta nói, “trừ việc anh ta muốn bỏ tôi.”

“Ý cô là sao?”

“Ồ, anh ta nói với mọi người là chúng tôi sẽ kết hôn, và tôi thông báo với mẹ tôi và mọi người như vậy, và giờ thì anh ta không muốn nữa.”

“Có chuyện gì vậy?”

“Anh ta quyết định là sống chưa đủ. Tôi biết rồi sẽ như thế khi anh ta đi New York mà.”

Cô ta nhìn lên, đôi mắt sáng quắc và cố gắng không ăn nói quá tự phụ.

“Tôi sẽ không cưới nếu anh ta không muốn. Dĩ nhiên là tôi không làm thế. Giờ thì tôi sẽ không cưới anh ta vì bất cứ điều gì. Nhưng hình như bây giờ thì quá muộn với tôi rồi, sau khi đợi chờ ba năm, và tôi vừa mới hoàn tất thủ tục ly dị.”

Tôi không nói gì.

“Đáng lý ra phải tổ chức ăn mừng, và thay vì vậy chúng tôi lại thành ra diễn tuồng. Thật là nông nổi. Thật là một vở tuồng tệ hại, và anh ta khóc và cầu xin tôi biết điều, nhưng anh ta nói rằng anh ta chỉ không làm nổi.”

“Thật là gở.”

“Tôi có thể nói đó là thiếu vận may. Tôi đã đợi chờ anh ta những hai năm rưỡi. Và giờ thì tôi không biết liệu có người đàn ông nào còn muốn cưới tôi không. Hai năm trước tôi có thể cưới bất kỳ ai tôi muốn, ở Cannes ấy. Mấy ông già muốn cưới mấy cô nàng thời thượng và sống ổn định phát điên lên vì tôi ấy chứ. Giờ thì tôi còn tìm ai được nữa.”

“Chắc chắn là cô có thể cưới bất kỳ ai.”

“Không, tôi không tin đâu. Và tôi vẫn thích anh ta. Và tôi muốn có con nữa. Tôi luôn nghĩ về việc có con.”

Cô ta nhìn tôi bằng ánh mắt rực sáng. “Tôi chưa từng thích trẻ con cho lắm, nhưng tôi không muốn nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ có con. Tôi luôn nghĩ rằng tôi sẽ có chúng và rồi thích chúng.”

“Cậu ta có con rồi.”

“À, vâng. Anh ta có con, anh ta có tiền, và anh ta có một bà mẹ giàu có, anh ta viết văn, và chẳng có ai phát hành mấy thứ vớ vẩn của tôi cả, không ai hết. Thế thì cũng chẳng tệ lắm. Và tôi thì chẳng có xu nào. Tôi có thể có mấy khoản phụ cấp sau ly dị, nhưng tôi lại giải quyết việc ấy nhanh chóng quá.”

Cô ta nhìn tôi sắc lẻm.

“Điều này không đúng. Tất cả là lỗi của tôi, mà cũng chẳng phải. Đáng lý ra tôi phải biết rõ hơn. Và khi tôi nói chuyện với anh ta thì anh ta chỉ khóc và nói rằng anh ta không thể kết hôn. Sao anh ta lại không thể kết hôn? Tôi sẽ là một người vợ tốt. Tốt rất dễ chịu đựng. Tôi sẽ để anh ta yên. Thế mà cũng chẳng ra đâu vào đâu cả.”

“Tệ quá.”

“Vâng, tệ lắm. Nhưng nói thế cũng chẳng ích gì, nhỉ? Thôi nào, mình quay lại quán café đi.”

“Và đương nhiên tôi không giúp gì được.”

“Không. Anh chỉ cần đừng nói với anh ấy chuyện này. Tôi biết anh ấy muốn gì.” Lúc này là lần đầu tiên cô ta bỏ thái độ vui tươi khủng khiếp kia đi. “Anh ta muốn một mình quay lại New York, và ở đó khi cuốn sách của anh ta ra lò và sẽ có hàng tá cô ả mê mẩn nó. Đó là điều mà anh ta muốn.”

“Có thể họ sẽ không thích nó. Tôi không cho là cậu ấy là người như thế. Thật đấy.”

“Anh không hiểu anh ấy bằng tôi đâu, Jake ạ. Anh ta muốn thế thật đấy. Tôi biết lắm. Tôi biết rõ. Vì thế nên anh ta mới không chịu làm đám cưới với tôi. Anh ta chỉ muốn thắng lớn mùa thu này một mình thôi.”

“Cô có muốn quay lại quán café không?”

“Vâng. Đi thôi.”

Chúng tôi đứng dậy — họ không bao giờ mang đồ uống ra cho chúng tôi – và bắt đầu sang đường về quán Select, nơi Cohn ngồi đó mỉm cười với chúng tôi sau chiếc bàn đá.

“Ồ, anh cười gì thế?” Frances hỏi gã. “Thấy sung sướng à?”

“Anh cười với em và Jake và cái chuyện bí mật của em.”

“Ô, mấy chuyện em nói với Jake chẳng phải bí mật gì đâu. Rồi mọi người sẽ sớm biết cả thôi. Em chỉ muốn cho Jake biết phiên bản đàng hoàng nhất.”

“Gì đấy? Về chuyện em sắp sang Anh à?”

“Vâng, về việc em sang Anh. Ôi, Jake! Tôi quên béng mất không kể cho anh. Tôi sắp sang Anh đấy.”

“Tuyệt đấy chứ!”

“Vâng, đấy là điều người ta vẫn thường làm ở những gia đình danh giá nhất. Robert gửi tôi đi. Anh ta sẽ cho tôi hai trăm bảng và rồi tôi sẽ viếng thăm vài người bạn. Như thế không hay sao? Mấy người đó vẫn còn chưa biết vụ này.”

Cô ta quay sang Cohn và cười với gã. Lúc này thì gã không cười.

“Anh sẽ chỉ đưa em một trăm bảng thôi, đúng không, Robert? Nhưng tôi bắt anh ta đưa tôi hai trăm bảng. Anh ấy hào phóng lắm. Đúng không, Robert?”

Tôi không biết tại sao người ta lại có thể nói những lời kinh khủng như vậy với Robert Cohn. Có những người mà anh không thể nói lời sỉ nhục với họ. Họ cho anh cái cảm giác rằng thế giới này sẽ sụp đổ, sẽ thật sự bị hủy diệt trước mắt anh, nếu như anh nói mấy lời như vậy. Nhưng lúc này Cohn nhận lấy tất. Lúc này, mọi thứ diễn ra ngay trước mắt tôi, và tôi không hề cảm thấy xúc động và cố ngăn lại. Và những gì diễn ra sau đó thì khá khôi hài.

“Làm sao mà em có thể thốt ra những lời như thế hả Frances?” Cohn cắt ngang.

“Nghe anh ta nói kìa. Tôi sẽ sang Anh. Tôi sẽ đi thăm bạn. Anh đã bao giờ đi thăm ai mà họ không muốn gặp anh chưa? Ôi, họ sẽ phải chịu đựng tôi, cũng được thôi. ‘Bạn thân mến, bạn khỏe không? Đã lâu rồi bọn mình mới gặp nhau nhỉ. Mẹ bạn thế nào rôi?’ Vâng, bà mẹ thân mến của tôi thế nào ư? Bà ấy tiêu hết tiền vào mấy cái trái phiếu chiến tranh của Pháp. Đúng thế đấy. Có khi bà ấy là người duy nhất trên đời này làm thế cũng nên. ‘Thế còn Robert?’ hoặc là chúng tôi sẽ nói chuyện rất cẩn trọng về Robert. ‘Bạn thân mến ơi, cậu phải cẩn trọng khi chắc đến anh ta chứ. Frances tội nghiệp đây vừa phải trải qua một chuyện xui lắm.’ Như thế thì có vui không, Robert? Anh có nghĩ như thế là vui không Jake?”

Cô ta quay sang tôi với nụ cười chói lóa. Đối với cô ta có một khán giả như thế này thì thật là thỏa mãn.

“Còn anh thì sẽ đi đâu, Robert? Tất cả là lỗi của tôi, được thôi. Hoàn toàn là lỗi của tôi. Khi tôi khiến anh từ bỏ cô thư ký bé nhỏ của anh ở tờ tạp chí đáng lý ra tôi cũng phải biết rằng anh sẽ đối xử với tôi như thế chứ. Jake không biết chuyện này nhỉ. Tôi có nên kể cho anh ấy nghe không?”

“Im đi, Frances, vì Chúa.”

“Phải, tôi sẽ kể cho anh ta. Ông Robert đây có một cô thư ký nho nhỏ ở tòa soạn. Cái thứ ngọt ngào đáng yêu nhất trên đời này ấy, và anh ta cho rằng cô ta rất tuyệt, rồi thì tôi xuất hiện và anh ta lại cho rằng tôi cũng khá tuyệt. Thế là tôi buộc anh ta phải từ bỏ cô kia, và anh ta đưa cô nàng tới Provincetown[14] từ Carmel[15] khi anh ta chuyển tòa soạn, và anh ta còn chẳng buồn trả tiền cho cô ta quay lại bờ bên kia. Tất cả chỉ để lấy lòng tôi. Anh ta tưởng rằng tôi cũng tạm được. Đúng không, Robert?”

“Anh đừng hiểu nhầm, Jake, chuyện xảy ra với cô thư ký là hoàn toàn trong sáng. Cũng không trong sáng. Vì chẳng có gì cả, thật đấy. Chỉ là cô ta rất được. Và anh ta chỉ làm thế để vừa lòng được tôi. Ôi, tôi đoán là gậy ông đập lưng ông cả thôi. Nói một cách văn vẻ thì là như thế, đúng không? Anh có muốn ghi nhớ điều ấy cho cuốn sách tiếp theo không, Robert?”

“Anh biết đấy Robert đang tìm tư liệu cho cuốn sách mới. Đúng không, Robert? Vì thế nên anh ta mới định thôi tôi. Anh ta quyết định tôi không phù hợp với anh ta. Anh thấy đấy, anh ta bận rộn mọi lúc chúng tôi ở bên nhau, viết trong sách anh ta như thế, đến nỗi mà anh ta chẳng nhớ gì về chúng tôi cả. Nên giờ thì anh ta đi và kiếm nguồn tư liệu mới. Ôi, tôi cũng hi vọng là anh ta kiếm được thứ gì đấy cho thật thú vị vào.”

“Nghe này, Robert thân mến. Để tôi cho anh biết điều này. Anh không phiền lòng mà, đúng không? Đừng tơ tưởng đến mấy cái cô trẻ người non dạ nữa. Anh cố đừng làm thế. Bởi vì anh không thể diễn kịch mà không khóc lóc đâu, và rồi anh sẽ thấy thương cảm cho bản thân anh quá nên anh không thể nhớ nổi những gì người khác nói đâu. Anh không thể nào nhớ nổi những cuộc nói chuyện theo kiểu ấy. Anh cần cố gắng và bình tĩnh nhé. Tôi biết là sẽ khó lắm. Nhưng hãy nhớ đấy, mấy thứ này là dành cho văn chương. Tất cả chúng ta đều phải hi sinh vì văn chương. Nhìn tôi xem. Tôi sẽ đi Anh mà không có sự bảo vệ. Tất cả là vì văn chương. Chúng ta phải giúp đỡ các nhà văn trẻ. Anh có nghĩ thế không, Jake? Nhưng anh thì không còn là nhà văn trẻ nữa đâu. Đúng không, Robert? Anh ba mươi tư rồi đấy. Tôi, thì vẫn cho rằng như thế là quá trẻ đối với một nhà văn giỏi. Hãy nhìn Hardy[16] mà xem. Cả Anatole France[17] nữa. Ông ta chỉ vừa mới chết thôi. Thế mà, Robert không nghĩ là ông ta có tài cơ đấy. Vài người bạn Pháp của anh ta bảo thế. Mà anh cũng có khá tiếng Pháp đâu. Ông ấy viết không hay bằng anh mà, đúng không, Robert? Anh có nghĩ rằng ông ta đã bao giờ phải đi mà tìm lấy tư liệu chưa? Anh đoán ông ta nói gì với mấy bà tình nhân khi ông ta không muốn cưới họ? Tôi thắc mắc là ông ta có khóc không nhỉ? Ôi, tôi vừa nghĩ ra điều này.” Cô ta đặt bàn tay đeo găng lên môi. “Tôi biết lý do thật sự của việc vì sao Robert không buồn cưới tôi, Jake ạ. Tôi vừa mới nghĩ ra thôi. Chúng đến với tôi bằng một linh cảm ở quán Café Select này. Như thế không phải là thần bí lắm sao? Một ngày nào đó họ sẽ dựng ở đây một bảng kỷ niệm ấy chứ. Như ở Lourdes[18] ấy. Anh có muốn biết không, Robert? Để tôi nói cho mà nghe. Đơn giản lắm. Không hiểu vì sao mà tôi chưa từng nghĩ đến nó. Tại sao, anh thấy đấy, Robert luôn muốn có một ả nhân tình, và nếu anh ta không muốn cưới tôi, thì là bởi vì anh ta đang có một cô như thế. Cô ta chắc phải làm nhân tình của anh ta hơn hai năm rồi đấy. Thấy chưa? Và nếu cưới tôi, như anh ta vẫn luôn hứa vậy, thì mối tình lãng mạn chấm dứt. Anh thấy tôi có thông minh không cơ chứ? Đúng vậy. Nhìn anh ta là biết ngay. Anh đi đâu thế, Jake?”

“Tôi phải vào trong xem Harvey Stone một chút.”

Cohn nhìn lên khi tôi đi vào. Mặt gã trắng bệch. Sao gã vẫn còn ngồi đó? Sao gã lại cứ nhẫn nhịn như vậy?

Tôi ngồi xuống bên quầy bar và nhìn ra ngoài, tôi có thể thấy họ qua cửa kính. Frances vẫn còn đang nói, mỉm cười rạng rỡ, nhìn vào mặt gã mỗi lần cô ta hỏi: “Phải vậy không, Robert?” Hoặc có thể là lúc này cô ta không còn hỏi thế. Có thể là cô tang đang nói gì đó khác. Tôi bảo người pha rượu rằng tôi không muốn gọi đồ gì uống cả và đi ra ngoài bằng cửa bên. Khi tôi đi ra khỏi cửa và ngoái lại qua lớp kính dày tôi thấy bọn họ vẫn còn ngồi đó. Cô ta vẫn tiếp tục nói. Tôi đi xuống phố tới đại lộ Boulevard Raspail. Một chiếc taxi đi tới và tôi ngồi vào và nói địa chỉ căn hộ của tôi với người tài xế.


[1] Jack Rose: một loại cocktail cổ điển, thịnh hành vào những năm 1920 – 1930, thành phần gồm có rượu táo, xi rô lựu, và chanh hoặc nước chanh. Có nhiều đồn đại về cái tên của loại cocktail này nhưng lời giải thích được chấp nhận rộng rãi nhất là bởi vì nó được chế từ rượu táo và có màu hoa hồng bởi xi rô lựu.

[2] Boulevard Raspail: một đại lộ nối Boulevard St. Germain với Boulevard du Montparnasse, nằm ở bờ bên trái của sông Seine.

[3] Fontainebleau: một khu dân cư thuộc thủ đô Paris. Cách trung tâm thành phố 55,5 km về phía đông nam.

[4] Montereau: thị trấn ở miền bắc nước Pháp, nằm về phía đông nam của Paris nơi con sông Seine chảy qua.

[5] Mencken H.L. (1880–1956); nhà văn, biên tập viên và là nhà phê bình văn học người Mỹ. Mencken, được biết đến là ‘Nhà hiền triết Baltimore’, được xem là một trong những nhà văn Mỹ có tầm ảnh hưởng nhất trong nửa đầu thế kỷ 20.

[6] Rotonde: một quán café mà hiện vẫn còn hoạt động trên đại lộ Boulevard du Montparnasse

[7] các đĩa nhỏ lót đáy cốc rượu thường được làm bằng bìa cứng. Bồi bàn sẽ dựa trên số đĩa lót này để tính tiền của khách.

[8] Alexander Hamilton Institute: Một học viện ở châu Âu chuyên về đào tạo quản trị kinh doanh. Học viên này từng phát hành bộ sách gồm 24 cuốn về cách thức điều hành một doanh nghiệp.

[9] rượu port hay porto: là một loại rượu vang của Bồ Đào Nha được sản xuất từ vùng Douro Valley ở các tỉnh phía bắc của nước này. Rượu thường có vị ngọt, màu đỏ, và được dùng với món tráng miệng. Các loại thường gặp là rượu vang nguyên chất, nửa nguyên chất, và rượu trắng.

[10] Áo polo còn được gọi là áo golf hay áo tennis, là loại hình chữ T có cổ, và 2 – 3 khuy cài, có thể có túi ở ngực. Thường được may từ vải nỉ, cotton, hoặc lụa.

[11] Suzanne Lenglen (1899–1938); nhà vô địch đơn Wimbledon các mùa giải 1919–1923.

[12] Closerie des Lilas: một quán café ở Paris

[13] Ritz: một khách sạn ở Paris được thành lập bởi Cesar Ritz (1850–1918), người Thụy Sĩ

[14] 2 Carmel, California; Provincetown, Massachusetts: một thị trấn ở California nằm ở bờ biển phía bắc của Los Angeles, một thị trấn ở Cape Cod. Đây là hai thị trấn rất cởi mở đối với các nghệ sĩ và nhà văn ở Mỹ.

[16] Thomas Hardy (1840–1928); tiểu thuyết gia và thi sĩ người Anh.

[17] Anatole France: bút danh của Jacques Anatole Francois Thibault (1844–1924); tiểu thuyết gia và nhà phê bình văn học người Pháp.

[18] Lourdes: một thị trấn ở tây nam nước Pháp nơi mà những tín đồ Thiên chú giáo La Mã cổ đại chọn làm điểm đế để dưỡng thương, chữa bệnh, etc.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: