MẶT TRỜI VẪN MỌC – Chương 4

CHƯƠNG 4

Image

Xe bò lên đồi, vượt qua quảng trường rực sáng, rồi đi vào vùng tối, vẫn đi lên cao, đi qua quãng đường bằng phẳng vào một con phố tối om phía sau St. Etienne du Mont[1], đi xuống êm ru trên lớp nhựa đường, qua những hàng cây và xe buýt đang đỗ ở Place de la Contrescarpe[2], rồi đi vào con đường rải sỏi Rue Mouffetard[3]. Các quán bar và những cửa hàng mở muộn sáng trưng ánh đèn nằm hai bên đường. Chúng tôi ngồi cách xa nhau và một cú nẩy bật vì sóc làm chúng tôi xích lại bên nhau khi rẽ vào một con phố cổ. Mũ Brett rơi xuống. Đầu nàng ngửa ra sau. Tôi nhìn thấy gương mặt nàng trong ánh sáng phát ra từ một cửa hiệu còn mở cửa, rồi lại tối, rồi tôi lại nhìn rõ được khuôn mặt nàng khi chúng tôi đi ra đến đại lộ Avenue des Gobelins[4]. Con đường bị đào bới nghiêm trọng và những người công nhân đang làm việc bên phần đường dành cho ô tô trong ánh sáng acetylene của đèn rọi. Khuôn mặt Brett trắng bệch và cổ nàng lộ ra dưới ánh sáng chói của ánh đèn đêm. Con đường lại tối trở lại và tôi ghé môi hôn nàng. Môi chúng tôi dính chặt vào nhau và rồi nàng quay đi và dúi người vào góc ghế, xa nhất có thể. Đầu nàng gục xuống.

“Đừng chạm vào em,” nàng rên rỉ. “Xin anh đừng chạm vào em.”

“Sao thế em?”

“Em không chịu được.”

“Ôi, Brett.”

“Anh không phải làm thế đâu. Anh biết mà. Em không chịu được, thế thôi. Ôi, anh yêu, anh hãy hiểu cho em!”

“Em không yêu anh ư?”

“Yêu anh? Em mềm nhũn cả người ra khi anh chạm vào em.”

“Mình có thể làm được gì không?”

Giờ nàng ngồi thẳng dậy. Tôi vòng tay ôm nàng, và nàng lại dựa vào ngực tôi, và chúng tôi cảm thấy yên ổn. Nàng nhìn vào mắt tôi với cái nhìn khiến anh phân vân rằng liệu nàng có thấy được gì bằng đôi mắt đó. Chúng sẽ vẫn duy trì ánh nhìn như vậy cho dù mọi đôi mắt trên thế gian này đều đã khép lại. Nàng cứ nhìn như thể không có thứ gì trên đời này có thể khiến nàng không có cái nhìn ấy, và thực sự nàng lo sợ quá nhiều điều.

“Và chúng mình chẳng thể làm gì được,” tôi nói.

“Em không biết nữa,” nàng trả lời. “Em không muốn chịu đựng điều ấy thêm nữa.”

“Chúng mình nên xa nhau thì hơn.”

“Nhưng, anh yêu, em phải nhìn thấy anh. Chẳng lẽ anh không biết.”

“Không, nhưng buộc phải thế thôi.”

“Đấy là lỗi của em. Chẳng phải chúng ta đều phải trả giá cho những việc mình làm đấy sao?”

Nàng không rời mắt khỏi tôi. Mắt nàng có những độ sâu khác nhau, đôi khi chúng trở nên hoàn toàn nông cạn. Còn lúc này anh có thể nhìn vào trong vô tận của đôi mắt ấy.

“Đôi khi em nghĩ về cái địa ngục mà em đã đẩy người khác vào. Giờ đây em đang phải trả giá.”

“Em đừng ngốc nữa,” tôi nói. “Mà điều xảy ra với anh thì đúng là nực cười. Anh không bao giờ nghĩ về điều này.”

“Ôi, không. Em xin anh đừng nói vậy.”

“Ừ, mình đừng nói về điều này nữa.”

“Bản thân em cũng từng cười nhạo nó, một lần.” Nàng không nhìn tôi nữa. “Một người bạn của anh trai em đến thăm nhà từ Mons. Nó giống như một kiểu chuyện cười. Người ta chẳng biết cái gì cả, đúng không?”

“Không,” tôi nói. “Chẳng có ai biết cái gì cả.”

Tôi xoay sở khá tốt với chủ đề này. Lúc này hay lúc khác tôi có thể cân nhắc nó từ hầu hết các góc độ khác nhau, bao gồm cả khía cạnh những vết thương cụ thể hoặc sự không hoàn hảo là một chủ đề đùa vui đùa mà có tính chất khá là nghiêm trọng đối với nhân vật trung tâm.

“Cũng khôi hài mà,” tôi nói. “Rất buồn cười. Và ngay cả chuyện yêu đương nữa, cũng buồn cười.”

“Anh nghĩ thế ư?” đôi mắt nàng lại thật nông.

“Anh không ám chỉ vui theo nghĩa đó. Mà ý anh đấy là cảm giác của sự vui sướng.”

“Không,” nàng nói. “Em nghĩ nó là địa ngục trần gian.”

“Được gặp gỡ nhau là một điều tốt.”

“Không. Em không nghĩ vậy.”

“Em không muốn thế ư?”

“Em phải nghĩ như vậy.”

Chúng tôi ngồi với nhau như hai người xa lạ. Bên phải là Parc Montsouris. Một nhà hàng mà họ có cả một bể những con cá hồi hãy còn đang bơi lội tung tăng và là nơi anh có thể ngồi xuống và nhìn ra công viên lúc này đã đóng cửa và chìm trong bóng tối. Người lái xe quay đầu lại.

“Em muốn đi đâu?” tôi hỏi. Brett quay mặt đi.

“Ôi, đến quán Select[5] đi.”

“Café Select,” tôi bảo bác tài. “Boulevard Montparnasse[6].” Chúng tôi đi thẳng xuống, vòng quanh Lion de Belfort[7] nơi những người lính đi tuần đang băng ngang qua đường xe điện Montrouge[8]. Brett nhìn thẳng về phía trước.

Tại Boulevard Raspail[9], với ánh sáng từ Montparnasse ở một bên, Brett nói: “Anh có buồn không nếu em hỏi anh điều này?”

“Em đừng ngốc chứ.”

“Anh hôn em một lần nữa nhé trước khi mình đến đấy.”

Xe dừng lại, tôi bước xuống và trả tiền. Brett nhích ra và đội mũ lên. Nàng đưa tay cho tôi và bước xuống. Bàn tay nàng run run. “Em bảo này, trông em có tệ lắm không?” Nàng bỏ chiếc mũ kiểu đàn ông xuống và tiến về phía quầy bar. Bên trong, bên quầy bar và các bàn, là phần lớn những người có mặt tại sàn nhảy khi nãy.

“Xin chào, các bạn,” Brett cất tiếng. “Tôi tới đây làm một ly.”

“Ôi, Brett! Brett!” gã họa sĩ vẽ chân dung người Hi Lạp nhỏ thó, tự gọi mình là Công tước, và mọi người thì gọi gã là Zizi, bước tới chỗ nàng. “Tôi nói cô nghe chuyện này hay lắm.”

“Chào, Zizi,” Brett nói.

“Tôi muốn cô gặp một người bạn,” Zizi nói. Một người đàn ông to béo tiến tới.

“Bá tước Mippipopolous, xin hãy gặp bạn tôi Phu nhân Ashley.”

“Xin chào ngài,” Brett nói.

“Ồ, Phu nhân đây thấy vui khi ở Paris chứ?” ông Bá tước tên Mippipopolous, người có một cái răng nai Bắc Âu treo trên dây đeo đồng hồ, hỏi.

“Vâng, đúng vậy,” Brett trả lời.

“Paris là một thành phố rất được,” ông Bá tước nói. “Nhưng tôi đoán cô sẽ hạnh phúc hơn nếu ở London.”

“À, vâng,” Brett nói. “Nhiều lắm.”

Braddocks gọi tôi từ một chiếc bàn. “Barnes,” ông ta nói, “qua đây làm một ly nào. Cái cô gái đi cùng anh có một vụ khá ầm ĩ đấy.”

“Có chuyện gì thế?”

“Cô con gái ông chủ quán nói cái gì đó. Một vụ ầm ĩ lạ. Cô ta cũng hoành tráng lắm, anh biết đấy. Trình cái thẻ vàng của cô ả ra và cũng yêu cầu như thế với cô con giá ông chủ quán. Nhặng xị hết cả lên.”

“Thế cuối cùng thì sao?”

“À, có ai đó đưa cô ta về. Nhìn cô nàng không tệ đâu. Biết rất nhiều những câu thạo đời đầy thông thái. Ngồi lại uống với tôi một ly nhé!”

“Thôi,” tôi nói. “Tôi phải đi đây. Anh có thấy Cohn không?”

“Anh ấy về nhà với Frances rồi,” bà Braddock chen vào.

“Ông bạn tội nghiệp, anh ta trông ủ ê lắm,” Braddocks nói.

“Em cũng nghĩ vậy,” bà Braddocks nói.

“Thôi tôi phải đi đây,” tôi nói. “Chào nhé.”

Tôi chào tạm biệt Brett nơi quầy bar. Ông Bá tước đang mua rượu champagne. “Ngài làm một ly với chúng tôi, ngài nhé?” ông ta mời.

“Thôi ạ. Cảm ơn ông quá. Nhưng tôi phải đi thôi.”

“Anh đi thật à?” Brett hỏi.

“Ừ,” tôi trả lời. “Anh thấy đau đầu quá.”

“Mai em gặp anh nhé?”

“Có lẽ là không.”

“Ờ, thế mai anh gặp em ở đâu?”

“Chỗ nào cũng được vào khoảng năm giờ.”

“Thế thì mình gặp nhau ở bên kia thành phố vậy.”

“Được đấy. Em sẽ có mặt ở Crillon[10] lúc năm giờ.”

“Em cố gắng có mặt nhé,” tôi nói.

“Anh đừng lo,” Brett trả lời. “Em đã bao giờ phụ lòng anh chưa?”

“Có tin tức gì từ Mike không?”

“Anh ấy vừa gửi thư ngày hôm nay.”

“Xin chúc ngài ngủ ngon,” Bá tước chào tạm biệt tôi.

Tôi bước ra đường, đi bộ xuống đại lộ Boulevard St. Michel[11], bước qua những chiếc bàn của quán Rotonde, vẫn còn đông đúc, nhìn sang bên kia đường là quán Dome, bàn ghế tràn ra tận mép đường. Có ai đó vẫy tôi từ mấy chiếc bàn, tôi không nhìn ra được là ai và đi tiếp. Tôi muốn trở về nhà. Đại lộ Boulevard Montparnasse vắng tanh. Quán Lavigne đã đóng cửa, và họ đang dọn dẹp bàn ghế bên ngoài quán Closerie des Lilas. Tôi đi qua bức tượng tướng Ney[12] đứng giữa những hàng cây dẻ ngựa mới thay lá trong ánh sáng hồ quang. Có một tràng hoa màu tím được đặt bên chân tượng. Tôi dừng lại và đọc lời giới thiệu trên bia khắc: từ nhóm Bonapartist[13], đề một ngày nào đó mà tôi đã quên mất. Ông ta trông rất ổn, Marshal Ney trong đôi giày ống cao, giương cao cây kiếm của mình giữa những tán lá cây dẻ ngựa. Căn hộ của tôi nằm ngay phía bên kia đường, bên dưới đại lộ Boulevard St. Michel.

Phòng bà gác cửa vẫn sáng đèn và tôi gõ vào cánh cửa và bà ta đưa thư cho tôi. Tôi chúc bà ta ngủ ngon rồi lên lầu. Có hai bức thư và vài tờ báo. Tôi đọc chúng dưới ánh sáng đèn gas trong phòng ăn. Thư từ được gửi đi từ nước Mỹ. Một trong số chúng là bản sao kê ngân hàng. Tài khoản của tôi còn $2432.60. Tôi lấy ra quyển sổ thu chi và trừ đi bốn khoản chi từ hồi đầu tháng, và phát hiện số dư của tôi hiện giờ là $1832.60. Tôi ghi lại con số này phía sau tờ sao kê. Bức thư kia là giấy báo hỷ. Ông và bà Aloysius Kirby thông báo về đám cưới của cô con gái Katherine của họ – tôi chẳng biết cô gái cũng như người đàn ông mà cô ta lấy làm chồng. Họ hẳn phải gửi thông báo cho cả thành phố. Cái tên này nghe cũng nhộn. Chắc chắn là tôi có thể nhớ được bất kỳ ai có cái tên như Aloysius. Đấy là một cái tên Thiên chúa hay. Trên giấy báo hỷ có đóng dấu gia huy. Cũng giống như Zizi Công tước Hi Lạp. Và cái ông Bá tước kia. Cái ông Bá tước ấy kể ra cũng vui thật. Ngay đến cả Brett cũng có danh hiệu. Phu nhân Ashley. Mặc em Brett. Mặc xác em, Phu nhân Ashley.

Tôi bật chiếc đèn ngủ bên giường, tắt đèn gas, và mở toang cửa sổ. Giường cách xa hẳn cửa sổ, tôi ngồi xuống giường với cửa sổ mở toang và bắt đầu cởi quần áo. Từ không gian bên ngoài kia vọng lại tiếng đoàn tàu đêm, tiếng xe chạy trên đường, mang theo rau quả ra chợ bán. Buổi đêm thật ồn ào mỗi khi anh không thể chìm vào giấc ngủ. Cởi xong quần áo, tôi nhìn mình trong gương nơi chiếc tủ quần áo lớn đặt cạnh giường. Đó là phong cách trang trí nhà cửa rất đặc trưng của người Pháp. Cũng thực tế nữa, tôi cho là vậy. Trong tất cả các cách thức để bị thương. Tôi cho rằng điều này cũng có tính hài hước nhất định. Tôi mặc vào bộ pajamas và leo lên giường. Tôi có hai tờ tạp chí về đấu bò, tôi gỡ ra lớp giấy bọc. Một cái có màu cam. Còn cái kia thì màu vàng. Chúng đều đưa thứ tin tức như nhau, nên nếu đọc tờ nào trước thì cũng coi như là vứt tờ kia đi. Tờ Le Toril[14] thì hay hơn, nên tôi bắt đầu đọc nó. Tôi đọc cả tờ báo, kể cả mục Petite Correspondance[15] và Cornigrams[16]. Tôi tắt đèn. Tôi có thể sẽ chìm vào giấc ngủ.

Đầu óc tôi bắt đầu hoạt động. Những than trách cũ kỹ. Chao, thật là một cách thức thối tha để bị thương và trở thành một thứ chủ đề của những lời bỡn cợt nơi mặt trận nước Ý. Trong bệnh viện ở Ý chúng tôi đã hình thành được cả một cộng đồng. Nó có một cái tên Ý rất hài hước. Tôi phân vân không biết những người khác ra sao, những người Ý ấy. Đó là ở Ospedale Maggiore[17] ở Milano, Padiglione Ponte[18]. Tòa nhà tiếp theo là Padiglione Zonda[19]. Có một bức tượng Ponte, hoặc cũng có thể là Zonda. Đó là nơi ông đại tá liên lạc tới thăm tôi. Điều đó cũng nực cười nữa. Đó là chuyện nực cười đầu tiên. Tôi bị băng bó khắp người. Nhưng họ phải báo cáo chuyện đó với ông ta. Rồi ông ta có một bài diễn thuyết hoành tráng: “Anh, một người nước ngoài, một người anh” (bất kỳ một gã ngoại quốc nào cũng là người Anh) “đã hi sinh nhiều hơn cả cuộc đời anh.” Đúng là một bài diễn thuyết! Tôi ước sao có thể mô phỏng lại nó và lồng khung kính rồi trưng trong văn phòng mình. Ông ta không cười. Ông ta đã đặt bản thân mình vào vị trí của tôi, chắc là vậy. “Che mala fortuna[20]! Che mala fortuna!”

Tôi chưa từng nhận ra điều đó, tôi đoán vậy. Tôi cố gắng và bỡn cợt nó và chỉ mong không gây phiền tới người khác. Cũng có thể tôi sẽ chẳng bao giờ dính vào rắc rối nếu như tôi không gặp Brett khi họ đưa tôi tới Anh. Tôi nghĩ nàng chỉ muốn những gì mà nàng không thể có. Ôi, người ta ai cũng thế cả thôi. Hãy cứ quên hết mọi người đi. Nhà thờ Thiên Chúa luôn có biện pháp hiệu quả cho những vấn đề như thế này. Dù sao cũng là những lời khuyên tốt. Không cần phải lăn tăn đến điều ấy. Ôi, đấy đúng là lời khuyên tuyệt vời. Đôi khi cố gắng và nhận lấy nó. Cố gắng và nhận lấy.

Tôi nằm đó suy nghĩ mông lung và tâm trí tôi thì nhạy nhót loạn xạ. Rồi tôi không tài nào kiểm soát nổi, tôi lại bắt đầu nghĩ đến Brett và mấy thứ kia cứ tan biến đi đâu hết. Tôi nghĩ về Brett và đầu óc tôi không nhảy nhót loạn xạ nữa, như thể những con sóng bình yên đang vỗ về tôi vậy. Rồi bỗng nhiên tôi bật khóc. Rồi một lúc sau tôi cảm thấy khá hơn và tôi nằm yên trên giường, lắng nghe tiếng xe điện chạy phía xa xa và tiếng động vọng lên từ phía dưới đường, rồi tôi ngủ thiếp đi.

Tôi tỉnh giấc. Có tiếng ồn bên ngoài. Tôi nghe ngóng và tôi nghĩ tôi nhận ra một giọng nói. Tôi khoác áo choàng ngủ vào và đi ra cửa. Bà gác cửa đang nói gì đó dưới nhà. Ba ta xem chừng giận dữ lắm. Tôi nghe thấy tên mình và gọi với xuống.

“Ông Barnes, ông đấy à?” bà gác cửa gọi.

“Vâng. Tôi đây.”

“Có một cái bà ở dưới này đang đánh thức cả con phố dậy. Sao lại có cái loại người hành xử như thế vào giờ này cơ chứ! Bà ta bảo bà ta phải gặp ông. Tôi bảo với bà ta là ông ngủ rồi.”

Rồi tôi nghe thấy giọng của Brett. Lúc còn ngái ngủ tôi cứ ngỡ là Georgette. Tôi cũng không hiểu vì sao. Cô ta không thể biết địa chỉ của tôi được.

“Bà có thể cho cô ấy lên đây không?”

Brett đi lên cầu thang. Tôi thấy nàng hơi xỉn. “Thật là ngốc quá,” nàng nói. “Tự nhiên lại ầm ĩ hết cả lên. Em bảo này, anh không ngủ đấy chứ?”

“Thế em nghĩ là anh đang làm gì?”

“Không biết. Mấy giờ rồi anh?”

Tôi nhìn đồng hồ. Đúng bốn giờ rưỡi sáng. “Em chẳng có khái niệm gì về giờ giấc cả,” Brett nói. “Em ngồi xuống được không? Anh đừng bực, anh yêu. Em vừa chia tay ông Bá tước. Ông ta đưa em về đây.”

“Ông ta thế nào?” tôi rót brandy với soda vào cốc.

“Một tẹo thôi,” Brett bảo. “Anh đừng chuốc em say đấy. Bá tước á? Ôi, được lắm. Ông ta là người phe mình đấy.”

“Ông ta có thật là Bá tước không?”

“Thế đấy. Em cho là thật. Dù sao thì cũng xứng. Biết rất nhiều về người đời. Chẳng biết ông ta nhặt nhạnh mấy thứ đấy ở đâu. Sở hữu một lô cửa hàng kẹo ở Mỹ.”

Nàng nhấp một ngụm.

“Hình như ông ta gọi nó là chuỗi. Hình như thế. Liên kết mọi thứ với nhau. Kể cho em nghe một ít về nó. Thú vị lắm. Ông ta là một người trong bọn mình đấy. Ồ, cũng đại khái. Không nghi ngờ gì cả. Ai cũng có thể nhận ra.”

Nàng uống thêm một ly nữa.

“Làm sao mà em lại bận tâm về mấy thứ này chứ nhỉ? Anh không phiền chứ? Ông ta đang nâng đỡ Zizi đấy anh biết không.”

“Thế Zizi có phải là công tước thật không?”

“Em nghi lắm. Mấy gã Hi Lạp, anh biết đấy. Một tay họa sĩ trụy lạc. Em thì thích ông Bá tước hơn.”

“Em với ông ta đi những đâu?”

“Ồ, mọi nơi. Ông ta vừa chở em đến đây. Đề nghị em đi Biarritz[21] cùng ông ta với mười nghìn dollar. Như thế là bao nhiêu bảng nhỉ?”

“Khoảng hai nghìn.”

“Nhiều tiền thật. Bảo ông ta là em không thế được. Ông ta rất nhã nhặn về chuyện đó. Bảo ông ta là em biết rất nhiều người ở Biarritz.”

Brett cười.

“Em bảo này, anh chậm hấp thu quá,” nàng nói. Tôi chỉ nhấp một ngụm từ ly brandy với soda của mình. Tôi hớp một ngụm dài.

“Tốt hơn rồi. Vui lắm,” Brett kể tiếp. “Rồi ông ta muốn em đi cùng tới Cannes[22]. Bảo ông ta là em cũng biết nhiều người ở Cannes. Monte Carlo[23]. Bảo ông ta là em biết quá nhiều người ở Monte Carlo. Bảo ông ta là em biết quá nhiều người ở mọi nơi. Cũng đúng. Nên em bảo ông ta đưa em về đây.”

Nàng ngước nhìn tôi, tay nàng đặt trên bàn, nàng nâng cốc lên. “Đừng nhìn như thế,” nàng nói. “Em bảo ông ta là em yêu anh. Cũng đúng. Anh đừng nhìn em thế. Ông ta cũng chấp nhận chuyện đấy nữa. Ông ta muốn mời bọn mình đi ăn tối mai. Anh muốn đi không?”

“Sao lại không?”

“Em nên đi thôi.”

“Tại sao?”

“Em chỉ muốn gặp anh thôi. Thật là ngốc quá. Anh có muốn mặc quần áo và xuống dưới nhà không? Ông ta đỗ xe ngay bên đường thôi.”

“Ông Bá tước á?”

“Vâng. Và một tay tài xế mặc chế phục. Ông ta sẽ đưa em đi loanh qunah và dùng bữa sáng ở Bois[24]. Có mấy giỏ đựng trái cây. Mua ở Zelli. Một tá chai Mumms[25] nữa. Nghe hay không?”

“Sáng mai anh phải đi làm,” tôi nói. “Anh bị bỏ xa rồi và chẳng thấy vui gì cả.”

“Đừng có thối thế.”

“Anh không đi được.”

“Được thôi. Anh muốn gửi đến ông ta lời nhắn nhủ thân thương nào không?”

“Gì cũng được. Thật đấy.”

“Ngủ ngon nhé, anh yêu.”

“Đừng có đa cảm nhé.”

“Anh làm em phát ốm.”

Chúng tôi hôn tạm biệt và Brett run rẩy. “Em nên đi thôi,” nàng nói. “Chúc ngủ ngon, anh yêu.”

“Em không phải đi đâu.”

“Có.”

Chúng tôi hôn nhau nơi cầu thang và tôi gọi mở cửa, bà gác cửa lẩm bẩm lời gì đó đằng sau cánh cửa phòng gác. Tôi quay lại phòng và từ khung cửa sổ để mở tôi thấy Brett đi dọc lên phố tới chỗ một chiếc limousine lớn đang đỗ bên lề đường dưới ánh đèn hồ quang. Nàng bước vào xe và chiếc xe nổ máy. Tôi quay đi. Trên bàn là một chiếc cốc rỗng và một ly còn một nửa rượu brandy với soda. Tôi mang cả hai cái ly ra bếp và đổ chỗ rượu thừa vào bồn rửa. Tôi tắt lò sưởi trong phòng ăn, đá văng dép đi trong nhà và ngồi lên giường, rồi nằm xuống. Là Brett, khiến tôi muốn phát khóc. Rồi tôi nghĩ về nàng đi bộ lên phố và bước vào trong xe, như lần cuối cùng tôi thấy nàng, và đương nhiên trong một giây lát tôi cảm thấy như mình đang bơi trong địa ngục. Thật dễ dàng khi tỏ ra cứng cỏi vào thời điểm ban ngày, nhưng về đêm thì đó lại là một chuyện khác.


[1] St. Etienne du Mont: một nhà thờ nằm trên đỉnh đồi phía đông bắc của Pantheon, trong Latin Quarter ở Paris

[2] 3 4 Place de la Contrescarpe, Rue Mouffetard, Aveue des Gobelins: những phố nằm giữa St. Etienne du Mont và Parc Montsouris, thuộc bờ bên trái sông Seine

[5] Select: một quán café ở quận Montparnasse, ở phía tây nam của Latin Quarter bên bờ trái sông Seine

[6] Boulevard Montparnasse: con đường ở trung tâm quận Montparnasse

[7] Lion de Belfort: tượng đài được điêu khắc bởi Frédéric Bartholdi, tác giả bức Nữ thần tự do ở New York. Tượng đài này dài 22m và cao 11m, được đặt ở Belfort, Pháp. Được hoàn thành vào năm 1880 và được thực hiện từ chất liệu sa thạch. Bức tượng được điêu khắc tại nơi khai thác đá và chuyển tới trưng bày dưới chân lâu đài Belfort. Con sư tử là biểu tượng anh hùng cho sự hào hùng của người dân Pháp dưới thời lãnh chúa Belfort trong trận chiến chống xâm lược của 40000 người dân địa phương trong 103 ngày. Ở Paris (Pháp) và Montreal (Canada) đều có trưng bày phiên bản nhỏ hơn của tác phẩm này.

[8] Montrouge: khu dân cư ở phía nam ngoại ô Paris, cách trung tâm Paris 4.4 km. Đây từng là khu vực có mật độ dân cư đông đúc nhất châu Âu. Sau một thời gian suy giảm, dân số ở khu vực này lại tăng lên trong vài năm gần đây.

[9] Boulevard Raspail: một đại lộ nối Boulevard St. Germain với Boulevard du Montparnasse, nằm ở bờ bên trái của sông Seine

[10] Crillon: quán bar Bar du Crillon nằm trong khách sạn Hôtel du Crillon, đối diện với Đại sứ quán Mỹ trên đường Place de la Concorde. Đây là một trong những khách sạn lớn nhất châu Âu.

[11] Boulevard St. Michel: một đại lộ nối liền Montparnasse với Latin Quarter.

[12] Michel Ney: Duc D’Elchingen, Prince de La Muskova (1769–1815); thường được gọi là Marshal Ney, ông là nhà chỉ huy quân sự Pháp dưới thời Napoleon I. Ông bị hành quyết sau khi Napoleon bị phế ngôi. Ông được Napoleon trao tặng danh hiệu le Brave des Braves (“Kẻ dũng cảm nhất trong số những kẻ dũng cảm”)

[13] Nhóm Bonapartist: nhóm những người ủng hộ vương triều Bonaparte ở Pháp.

[14] Le Toril: một tờ tạp chí định kỳ về đấu bò tót

[15] Petite Correspondance: (tiếng Pháp) Thư gửi ban biên tập

[16] Cornigrams: Các trang thiết bị phục vụ môn đấu bò tót

[17] Ospedale Maggiore: một bệnh viện lớn ở Milan, bệnh viện này cũng xuất hiện trong tác phẩm Giã Từ Vũ Khí của Hemingway

[18] Padiglione Ponte: Ponte Pavilion, là nơi mà Jake được điều trị khi bị thương

[19] Padiglione Zonda: một bệnh viện dã chiến khác.

[20] Che mala fortuna! (tiếng Ý) Như thế này đã là may mắn rồi!

[21] Biarritz: thị trấn nghỉ mát ở tây nam nước Pháp, nằm trên Vịnh Biscay

[22] Cannes: một thành phố ở đông nam nước Pháp, trên Riviera

[23] Monte Carlo: một thị trấn ở Monaco; nơi tập trung rất nhiều sòng bạc

[24] Bois: Bois de Boulogne, một công viên lớn ở Paris

[25] Mumms: một loại champagne

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: