Fiesta de San Fermin. The Sun Also Rises. Hemingway


“Không ai sống một đời trọn vẹn ngoại trừ những dũng sĩ đấu bò”

Mặt trời vẫn mọc _ Ernest Hemingway

Vào thời điểm này trong năm, khi Fiesta de San Fermin diễn ra tại xứ sở xinh đẹp Pamplona của Tây Ba Nha, khi tiếng pháo khai hội đầu tiên vang lên tại lan can toà thị chính, khi đám đông trở nên điên cuồng, khi những chú bò tót to lớn đầy bực bội được thả ra trên phố đuổi theo đám đống chạy chối chết hướng về đấu trường … người ta lại nhớ về Hemingway và tác phẩm Mặt trời vẫn mọc.

Có người từng nói rằng, Hemingway chẳng là ai ngoài một gã nhàm chán, cô độc, khệnh đời, thích câu cá và đấm bốc và rượu, mê Tây Ban Nha và các xứ xở có nền văn hoá latin khác, có một chút ít tài nghệ văn chương, và cuối cùng là kết thúc cuộc đời thất bại của mình bằng chính tay mình. Nhưng những ai từng kịp đọc Mặt trời vẫn mọc hay những tác phẩm khác của ông sẽ có thể bất bình mà phản đối cái giả thuyết vô căn cứ ấy. Bởi ít nhất trong những tác phẩm ông viết ra, ta có thể thấy được thấp thoáng hình bóng của một nhân cách đầy cuốn hút – một con người tự tại, không bị gò bó bởi bất cứ điều gì, giữ cái nhìn độc đáo và bình tĩnh về cuộc đời. Hay ít nhất, thì cũng chẳng một ai viết được về Tây Ban Nha hay đến thế. Nhờ ngòi bút của ông, Fiesta de San Fermin mới được cả thế giới biết đến và say mê tham dự đến tận ngày nay.

Hemingway mở đầu cho một cuộc cách mạng rất Mỹ vào năm 1923, ấy là tìm đường đến với Tây Ban Nha của hội hè và cảm giác phiêu lưu từ Paris sáng chói và hoa lệ nhưng đầy giả tạo. Đấy là một chặng hành trình đầy thú vị qua những con đường quanh co đầy bụi cứ mãi dốc lên bên triền núi, nơi những đàn gia súc hai bên đường thờ ơ ngắm nghía cuộc đời và lũ người lướt đi trong chiếc xe ca bám đầy bụi, nơi những ngôi nhà vùng nông thôn được quét sơn màu trắng cứ ẩn hiện phía xa xa giữa nền xanh rì của lá bên dưới thung lũng. Và nếu nhắm mắt lại ta cảm nhận được hương vị của biển cả hiện diện ở đâu đó quanh đây.

Chẳng ở đâu một tâm hồn xa lạ và ít nhiều bị tổn thương bởi lối sống hoa mỹ hiện đại như Jake Barnes – người đưa tin thường xuyên của một tờ báo Mỹ tại Paris, một cựu chiến binh trở về từ Thế chiến 1 với mất mát lớn nhất cuộc đời là trở nên bất lực, một gã si tình đầy rộng lượng dành cho Lady Brett – lại tìm thấy niềm vui sống giữa tấm thịnh tình đối đãi nồng hậu nơi những nẻo đường nông thôn của Tây Ban Nha. Trên một chuyến xe ca,  người ta khoả lấp sự cách biệt về văn hoá và kiến thức bằng những chai rượu được truyền tay, và cái cách uống rượu đầy ngoạn mục của người Tây Ban Nha nghiễm nhiên được áp dụng.

Vào khoảng giữa trưa ngày mùng 6, Pamplona ních đầy những người là người, có đến hàng ngàn người tập trung trước quảng trường trong bộ quần áo có màu trắng và đỏ, tay này nâng chai rượu đựng thứ nước calimocho thần thánh (một hỗn hợp của rượu và coca-cola), tay kia vẫy chiếc khăn tay màu đỏ, đợi chờ dấu hiệu bắt đầu của bữa tiệc. (Mà rất có thể, với họ bữa tiệc đã được bắt đầu từ vài ngày trước đó.) Trong khoảnh khắc, fiesta chính thức bùng nổ. Và ngay cả Hemingway cũng phải công nhận, rằng không từ ngữ nào có thể miêu tả nổi trạng thái đó. Để rồi, trong 9 ngày bất tận, những vũ điệu không bao giờ kết thúc, những cuộc chè chén không bao giờ kết thúc, và tiếng ồn ào huyên náo cũng vậy – cứ tiếp diễn một cách đầy sống động và triền miên.

Từ mùng 6 đến 14 tháng 7 hàng năm. Thời điểm này, ở Tây Ban Nha, tiết trời rất đẹp. Người dân vùng địa trung hải, với tính cách khoáng đạt và ưa hội hè, xem đây là một dịp lớn trong năm để vui chơi và kết bè kết bạn. Trên quảng trường, đám đông luôn tụ tập tại nơi vọng lên tiếng nhạc, tiếng hát và vũ điệu riau – riau; hoặc tránh cái nóng của nắng hè bằng tách cà phê bên những dãy bàn được kê dưới cái bóng râm mát của những tán cây trên vỉa hè; hay tranh thủ làm ly rượu trong một quán bar và những chầu rượu trở thành chất phụ gia cho thứ tình bạn keo sơn của những con người xa lạ. Rượu được uống nhiều ở Tây Ban Nha bởi những bữa ăn đầu tiên ở đây bao giờ cũng như là một liệu pháp sốc với một món trứng, hai món thịt, rồi rau, rồi salad, rồi tráng miệng, rồi hoa quả; và cần phải có thêm thật nhiều rượu để cho trôi hết tất cả những thứ đó xuống dạ dày.

Và người ta nói nhiều đến cuộc chạy đua với lũ bò. Cứ vào khoảng 8 giờ buổi sáng, hàng trăm người gắng sức chạy qua những con đường quen thuộc của thị trấn trong trạng thái tinh thần vừa hoảng hốt vừa phấn khích kéo dài khoảng 3 phút. Một khung đường dài khoảng 825m từ Santo Domingo cho tới trước cửa đấu trường. Phát pháo đầu tiên báo hiệu cửa Santo Domingo đã mở; phát pháo hiệu thứ hai báo hiệu đàn bò đã được thả; phát thứ ba ám thị đàn bò đã tới quảng trưởng và sắp sửa tiến vào vòng đấu; và phát pháo cuối cùng báo hiệu cuộc đua kết thúc. Anh có thể theo dõi cuộc rượt đuổi ngoạn mục từ lan can của khách sạn, hay từ đấu trường nếu may mắn có tấm vé vào cửa, hay để tiết kiệm có thể tham gia vào cuộc đua nhưng hãy nhớ chuẩn bị sẵn tinh thần và thể lực, và vận quần áo thoải mái cho phù hợp.

Cũng đáng để tới thăm một trận đấu bò trong mùa lễ hội bởi đó là nơi duy nhất mà một matador – đấu sĩ thể hiện tình yêu của mình với bò tót bằng những chuyển động vừa uyển chuyển vừa mạnh mẽ. Một cuộc trình diễn mang đầy tính nghệ thuật của hai diễn viên chính trên sân khấu – đấu sĩ và con bò. Người ta nín thở và hồi hộp trước những nhịp chân bước, cái quay người, cái hất khăn, cú đâm điệu nghệ mà sắc ngọt của thanh kiếm giấu dưới tấm vải điều. Dưới cái nóng mùa hè, lớp cát màu vàng đỏ của đấu trường bị xới tung bởi vũ điệu nhịp nhàng và đầy toan tính của cả gã đấu sĩ mà không có lấy một động tác thừa thãi hay sống sượng. Hai nhân vật chính như đang cùng khiêu vũ. Cuộc trình diễn không cho phép sai lầm được xảy ra, bởi một tính toán sai cũng có thể sẽ phải trả bằng cái giá rất đắt.

Và rất có thể người ta vẫn không quên cầu nguyện, bởi những aficionado như Jake Barnes vẫn cần đến nhà thờ để cầu nguyện cho bản thân; cho bạn bè – cho Brett, Bill, Mike, Cohn; cho tất cả đấu sĩ của mùa lễ hội năm ấy và cho riêng đấu sĩ mà anh yêu thích.

Người ta cứ duy trì sự sống trong trạng thái bồng bềnh của một giấc mơ trong suốt 9 ngày lễ hội. Để rồi, đến đêm ngày 14, trong ánh nến và dưới màn trình diễn pháo bông đầy ngoạn mục của những nghệ sỹ bậc thầy tài hoa nhất, hàng ngàn người lại tụ tập trước quảng trường, buồn bã ngậm ngùi hát ca khúc “Pobre de mi” (Poor me). Còn sáng ngày 15, khi rục rịch đóng gói hành trang cho chuyến trở về với cuộc sống thường nhật, họ cảm thấy mất mát như thể một phần đời của mình đã bị bỏ rơi đâu đó tại Pamplona và, bắt đầu công cuộc đếm ngược thời gian cho tới Sanfermines năm tới.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: